MÂU HY UNG (1546 – 1627)

Mâu Hi Ung, tự Trọng Thuần, hiệu Mộ Đài, người Thương Thục (nay là Giang Tô, Thường Thục), sau dời về ở Kim Đàn, là danh y cuối đời Minh. Ông vốn con nhà thư hương, giỏi thi văn, người hào sảng, trọng khí tiết không thích làm quan. Ông thuở nhỏ nhiều bệnh, năm 17 tuổi bệnh sốt rét, trị lâu không ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

THÀNH VÔ KỶ (1063 – 1156)

Ông là người thời Tống, Kim, ở Liêu thành (nay là Liêu thành Tây, Sơn Đông). Niên hiệu Tĩnh Khang (1126). Theo y học sử, ông là nguồn thứ nhất chú thích ‘Thương hàn luận’ của Trọng Cảnh trong tác phẩm ‘Chú giải Thương hàn luận’ và ‘Thương hàn minh lý luận’ ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:13 ngày 18/06/2018

PHƯƠNG HỮU CHẤP

Phương Hữu Chấp, tự Trung Hạnh (có nơi viết Trọng Hạnh), biệt hiệu Cửu Long sơn nhân, người Thiệp Huyện (nay là An Huy, Thiệp Huyện) là danh y đời Minh nghiên cứu ‘Thương hàn luận’ của Trương Trọng Cảnh. Ông là người đầu tiên đề xướng ra thuyết đính chính quyển sách này. Lúc nhỏ cơ ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

PHẠM NGỌC THẠCH (1909-1968)

Bác sĩ Phạm ngọc Thạch sinh ngày 7 tháng 5 nǎm 1909, học Đại học Y Hà Nội từ nǎm 1928, tốt nghiệp bác sĩ ở Paris nǎm 1934. Tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn từ thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939), vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3 nǎm 1945. Từ tháng 3 nǎm 1945, là một thủ lĩnh của tổ ...

Tác giả: Trần Bảo Ngọc viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGUYỄN TĨNH ( ? – 1880)

Tự Hành Đạo, hiệu Nông Hà. Người làng Gia miêu, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Năm 1854 được bổ nhiệm làm Hàn lâm trước tác, giữ chức tri huyện Thọ Xương, sau được thăng làm tổng đốc Thanh Hóa. Ông có lập ra nhà chữa thuốc cho dân và nghiên cứu y học. Tác phẩm y học của ông ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGUYỄN TRỰC (1416 – 1473)

Tự là Công Dĩnh, hiệu Hu Liêu. Quê ở xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình ngày nay. Năm 18 tuổi ông thi đậu Hương tiến, năn 1442 đậu Trạng Nguyên. Năm 1443-1453 đời Lê Nhân Tôn giữ chức Hàn lâm viện thị giảng kiêm Quốc tử giám tế tửu và được cử đi sứ trung Quốc. Ông mất năm 1473, đời Lê ...

Tác giả: Trịnh Ngọc Trinh viết 13:13 ngày 18/06/2018

PHÍ BÁ HÙNG (1800 1878)

Phí Bá Hùng, tự Tấn Khanh, người Giang Tô, Võ Tiến, nhà ở Mạnh Hà, là y gia nổi tiếng nhất trong số danh y ở Giang Nam, khoảng niên hiệu Đồng Trị, đời Thanh. Ông là con nhà thế y, đến ông là đời thứ bảy. Thuở nhỏ ông học Nho; thiếu thời nổi tiếng văn chương, là cống sinh niên hiệu Đạo Quang ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGÔ KHIÊM

Ngô Khiêm, tự Lục Cát, người An Huy, Thiệp Huyện, sinh sống quãng niêu hiệu Ung Chính, Càn Long nhà Thanh (1723-1795). Niêu hiệu Càn Long (1736-1795), ông làm Thái y viện Viên phán phục vụ cho nội đình (Vua + tam cung lục viện). Niên hiệu Càn Long năm thứ 4 (1789), tháng một (11) vâng mệnh Vua, ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822 – 1888)

Tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù lấy hiệu là Hối Trai. Người thôn Tân Thái, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Sinh năm 1822, mất năm 1888 tại làng An Đức, tỉnh Bến Tre. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) ông đậu Tú tài trường Hương thí Gia Định và ra Huế thi cử nhân cùng thi ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGUYỄN MẠNH BỔNG

Không rõ quê quán. Soạn Bắc nam Dược Điển (Hà Nội 1942), Bắc Dược Bản Thảo Tiểu Từ Vưng (Hà Nội 1931), Bách Bệnh Cẩm nang (Hà Nội 1939), Bí Phương Công Bố (Hà Nội 1939), Trường Xuân Linh Dược (Hà Nội 1941), Phương Dược Chỉ Nam (Hà Nội 1942), Sách Thuốc Gia Truyền (Hà Nội 1939), Sách Thuốc Tùy Thân ...

Tác giả: Trịnh Ngọc Trinh viết 13:13 ngày 18/06/2018

PHÓ THANH CHỦ (1607 - 1684)

Phó Sơn, người Sơn Tây, Dương Khúc (nay là Thái Nguyên), lúc đầu có hiệu là Thanh Trúc, sau đổi là Thanh Chủ, hiệu Tường Lư. Sau khi nhà Minh mất, ông từ bỏ công danh, cải đổi tên tuổi và là một y gia phó cuối đời Minh đầu đời Thanh. Ông là con nhà trí thức; ông nội là Tiến sĩ, cha là Cống sinh. ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGÔ CÔN (1551 – 1620)

Ngô Côn, tự Sơn Phủ, hiệu Hạc Cao, người Thiệp Huyện (nay là An Huy, Thiệp Huyện), nhà y học lớn trứ danh đời Minh. Tuổi trẻ ông học khoa cử, có tài về văn chương nhưng chưa gặp thời, đến kinh đô thi tiến sĩ không đỗ, bèn đổi học y thuật. Vì nhà có cất giữ rất nhiều sách y, dược, đơn thuốc, ông ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGHIÊM DỤNG HÒA

Nghiêm Dụng Hòa tự Tử Lễ, người Nam Tống, Nam Phương nay là Giang Tây, Nam Phương). Nhân vì ông hành y vùng Lữ Sơn, cho nên tự xung là Lư Son nhân, nhà danh y đương thời. 8 tuổi bắt đầu đi học. Năm 12 tuổi là học trò của danh y Lưu Khai, người cùng quê. Lưu Khai có viết sách ‘Phương mạch cử ...

Tác giả: Trịnh Ngọc Trinh viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGÔ SƯ CƠ (1806 – 1886)

Nguyên có tên là An Nghiệp, tự Thượng Tiên, người Tiền Đường (Nay là Chiết Giang, Hàng Châu), là thầy thuốc giỏi về ngoại khoa đời nhà Thanh. Thuở nhỏ sống ở Giang Tô, Dương Châu. Năm 1834 ông đậu cử nhân, làm quan đến chức Nội các trung thư. Ông không thích công danh, chuyên tâm về thư pháp và ...

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Hiệu Dưỡng Nguyên. Quê làng Cống Thủy, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Sách y học có: Khoa Chữa mắt (Hà Nội 1939), Sách Thuốc Việt Nam (Hà Nội (1932, 1934, 1935, 1936), Vấn Đề Nghiên Cứu Thuốc Ta (Hà Nội 1935), Khoa Chữa Phổi Và Bệnh Lao (Hà Nội 1940).

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:13 ngày 18/06/2018

LÂM BỘI CẦM (1772 – 1839)

Lâm Bội Cầm, tự Vân Hòa, hiệu Hy Đồng, ngươi đời Thanh, Đơn Dương (nay là Giang Tô, Đơn Dương). Ông là kẻ sĩ, sính văn chương thi phú. Niên hiệu Gia Khánh, năm Mậu Thìn (1808), đỗ Hương khôi (đầu bảng thi Hương); năm sau đến kinh ứng thí không đỗ, bèn hồi hương mở lớp dạy học, đồng thời nghiên ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:12 ngày 18/06/2018

NGUYỄN ĐẠI NĂNG

Quê ở xã Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn (nay thuộc xã Hiệp Sơn – An Lưu, huyện Kịn Môn tỉnh Hải Hưng). Giữ chức Tảnhị ở Thái y viện phụ trách coi Thái y viện. Dùng châm cứu chữa bệnh cho nhiều người, được Hồ Hán Thương rất yêu mến. Ông đã soạn quyển ‘Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca’ bằng thơ ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:12 ngày 18/06/2018

NGUYỄN VĂN KHOAN

Sống vào đời Duy Tân (1907-1916) và đời Khải Định (1917-1925). Quê làng Thạch Cầu, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, giỏi về ngoại khoa, thường được gọi là ông lang Thạch Cầu.

Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương viết 13:12 ngày 18/06/2018

MÃ VĂN THỰC (1820 – 1903)

Mã văn Thực, tự Bồi Chi, người Giang Tô, Võ Tiến, Mạnh Hà, thầy thuốc trứ danh đời Thanh. Ông là con nhà thế y. Tổ tiên mấy đời nổi danh ở đời với bệnh ghẻ ngứa. Tổ tiên nguyên họ Tưởng, vì học y với họ Mã nên theo họ thầy. Tổ phụ là Mã Tỉnh Tam cũng là danh y, đời thứ năm nghề y. Cha ông là Bá ...

Tác giả: Lê Thị Khánh Huyền viết 13:12 ngày 18/06/2018

NGUYỄN HỮU HỔ

Tên cũ là Nguyễn Huy Nhiệm, tự Cách Như, hiệu Liên Pha, người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1824, vua Minh mạng nghe tiếng ông giỏi y học và thiên văn nên triệu vào kinh cho làm Linh đài lang ở Khâm thiên giám.

Tác giả: Trần Bảo Ngọc viết 13:12 ngày 18/06/2018