Sự phát triển của hình thức trái phiếu chính phủ ở Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá của loài người đã dần dần hình thành và phát triển các hình thức trưng dụng, đóng góp hoặc vay nợ giữa các bên tham gia trong quá trình mua, bán, đầu tư vốn hay đóng ...
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá của loài người đã dần dần hình thành và phát triển các hình thức trưng dụng, đóng góp hoặc vay nợ giữa các bên tham gia trong quá trình mua, bán, đầu tư vốn hay đóng góp cho những lợi ích của quốc gia, phương pháp được ghi nhận giá trị vốn đầu tư và cho vay với các tên gọi như công trái, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu...
Lịch sử đã ghi nhận một hình thức nhận nợ được ra đời đầu tiên ở thế kỷ thứ VII tại ý với phương pháp giản đơn là người đi vay đưa cho người vay một tờ giấy nhận nợ trong đó có ghi rõ số tiền vay tiền lãi nếu có và ngày trả nợ tiền vay do hai bên thoả thuận tờ giấy nhận nợ đó đến nay gọi là kỳ phiếu.
ở nước ta, trong thời kỳ đầu lập nước và giữ nước, Chính phủ cũng đã áp dụng các hình thức công phiếu để huy động sự đóng góp và vay của dân để tăng cường nguồn lực tài chính phục vụ cho các mục tiêu chính trị, quân sự và phát triển kinh tế đất nước trong từng thời kỳ. Sau khi giành được chính quyền, để giải quyết những khó khăn về mặt tài chính, ngày 16/7/1946 Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ra sắc lệnh số 122 cho phép Uỷ ban hành chính Nam bộ phát hành công trái vay của dân 5 triệu đồng, lãi đồng niên không quá 5% để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam bộ. Năm 1948, Bác Hồ ký sắc lệnh số 160-SL ngày 14/4/1948 cho phép phát hành trong toàn quốc “Công trái kháng chiến”. Nhằm một là: Huy động số tiền nhàn rỗi trong dân để phục vụ sản xuất và chiến đấu; hai là: Dùng công phiếu kháng chiến như một thứ tiền dự trữ với lãi suất 3%, thời hạn trả lãi 5 năm, đến năm 1950, trên tinh thần tổng động viên, Chính phủ cho phép phát hành loại ỎCông trái quốc giaÕ ghi bằng thóc để đảm bảo giá trị số tiền vay lãi suất 3% thời hạn 5 năm (Sắc lệnh số 139-SL ngày 19/9/1950).
Thời kỳ xây dựng đất nước, để tăng cường huy động vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu nhanh chóng hội nhập cộng đồng quốc tế. Ngày 25/11/1983 Chính phủ ban hành pháp lệnh về việc phát hành ỎCông trái xây dựng Tổ QuốcÕ bằng đồng Việt Nam, bằng thóc, bằng ngoại tệ thời hạn công trái là 10 năm, 5 năm, đảm bảo bằng một số mặt hàng chiến lược. Với mục đích cải thiện tình hình tài chính - ngân sách góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Khi hệ thống Kho bạc Nhà nước mới được thành lập, với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là quản lý quỹ NSNN. Thực hiện nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển: phát hành các hình thức tín phiếu, trái phiếu của Chính phủ với nhiều hình thức, các loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau, nhằm huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, mà chủ yếu là nguồn vốn trong dân cư để bù đắp thiếu hụt NSNN và tăng cường nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Cụ thể là: Các loại tín phiếu Kho bạc thời hạn dưới 12 tháng thường được phát hành để bù đắp khoản thiếu hụt ngân sách tạm thời khi nguồn thu chưa đến hạn, các loại trái phiếu KBNN có thời hạn dài hơn được dùng để bù đắp bội chi NSNN hàng năm. Công trái Nhà nước được phát hành theo đợt, nhằm thu hút vốn thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội lớn của đất nước.
- Ngày 13/3/1991 Nhà nước phát hành tín phiếu KBNN các loại thời hạn 3 tháng, 6 tháng, có ghi địa chỉ người mua, có lãi thanh toán 1 lần cả gốc và lãi, thanh toán trước hạn không được trả lãi.
- Ngày 15/7/1992 Chính phủ phát hành tín phiếu nhằm xây dựng đường dây tải điện 500 KW Bắc - Nam thời hạn phát hành 1, 2, 3 năm đối tượng bắt buộc.
- Tháng 11/1993 Nhà nước phát hành tín phiếu trả lãi trước thời hạn 6 tháng, 12 tháng.
Từ giữa năm 1995 đến nay, KBNN đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thành lập và đưa vào hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, tạo thêm một kênh huy động vốn mới cho NSNN, thời gian huy động vốn nhanh, lãi suất thấp hơn hình thức bán lẻ trái phiếu, thuận lợi cho người phát hành và nhà đầu tư. Ngoài ra, KBNN còn phối hợp với và hướng dẫn UBND các tỉnh, các Bộ, ngành xây dựng đề án huy động vốn đầu tư cho các công trình thuộc các ngành: Xi măng, thuỷ điện; cơ sở hạ tầng tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang, Cà Mau, Khánh Hoà, Lào Cai, Hà Nội, TP Hồ Chí MinhẶ với số vốn huy động hàng nghìn tỷ đồng.
- Tháng 5/1999, Nhà nước phát hành công trái xây dựng Tổ quốc kỳ hạn 5 năm lãi suất 10% năm. Nhằm huy động vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng cho 1000 xã nghèo đặc biệt khó khăn.
- Năm 2001 Nhà nước phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm lãi suất 6,8 ; 7 % năm
- Năm 2002 Nhà nước phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm lãi suất 7,1;7,4; 7,8 % năm
- Tháng 5/2003 Nhà nước phát hành công trái xây dựng Tổ quốc “Công trái giáo dục” kỳ hạn 5 năm lãi suất 8%/ năm. Nhằm huy động vốn để đầu tư kiên cố hoá trường lớp học...
-Từ tháng 10/2003 đến 15/12/2003 Nhà nước phát hành trái phiếu Chính phủ đợt 1 để đầu tư cho một số công trình giao thông thuỷ lợi quan trọng của đất nước, góp phần hình thành và nâng cấp một cách cơ bản hệ thống giao thông thuỷ lợi nước ta trong 10 năm tới. kỳ hạn 5 năm lãi suất 8,5 % năm.Thanh toán lãi hàng năm ( 8,5% ),thanh toán gốc khi đủ 5 năm.
Năm 2004 trái phiếu Kho bạc loại 2 năm phát hành từ 19/1/2004 lãi suất 8,2%( đủ 2 năm ) lãi suất 7,8%(đủ 1 năm).
Từ 15/4/2004 đến 15/6/2004 Nhà nước phát hành trái phiếu Chính phủ đợt 2 kỳ hạn 5 năm thanh toán lãi hàng năm ( 8,5% ), thanh toán gốc khi đủ 5 năm.
Ngày 26/7/1994 Chính phủ đã ra Nghị định số 72/CP về việc ban hành quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ, kèm theo Nghị định này là Thông tư 75-TC/KBNN ngày 14/9/1994 của Bộ Tài chính Ỏ hướng dẫn quy chế phát hành và thanh toán các loại trái phiếu Chính phủ”. Đến năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2000NĐ-CP ngày 13/1/2000 về Quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ (thay thế cho NĐ72/CP nói trên)
Trong những năm qua, hệ thống KBNN đã huy động được một lượng vốn lớn cho NSNN bằng các biện pháp và hình thức khác nhau (huy động qua thuế, phát hành trái phiếu Chính phủ). Tuy nhiên việc huy động vốn của hệ thống KBNN gặp không ít khó khăn. Do vậy, để huy động tối đa có hiệu quả nhất mọi nguồn vốn cho NSNN qua hệ thống KBNN đòi hỏi phải xem xét đến những nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của hệ thống KBNN.
Các nhân tố khách quan
- Nhân tố về kinh tế: từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế đã tăng trưởng rõ rệt. Tuy nhiên nền kinh tế vẫn mất cân đối, lạc hậu, nguồn thu cho NSNN còn thấp ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của KBNN.
- Nhân tố về thu nhập: Thu nhập bình quân đầu ngươi trong cả nước còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, tích luỹ trong dân cư chưa lớn, chưa đồng đều mà chỉ tập trung vào một số hộ, một số doanh nghiệp tư nhân. Trình độ dân trí thấp nên việc phát hành trái phiếu Chính phủ của Kho bạc để thu hút vốn nhàn rôĩ trong dân cư chưa đạt hiệu quả cao.
- Nhân tố lạm phát: Do tình hình lạm phát còn lớn, đồng tiền vẫn bị mất giá, do vậy rủi ro là không tránh khỏi. Dù lãi suất cao nhưng tiền mất giá thì lãi suất không bù được vốn gốc, người dân mua trái phiếu Kho bạc phải chịu lãi suất âm. Đó là lý do khiến người dân không dám mạo hiểm bỏ tiền vào mua trái phiếu Chính phủ. Do đó, lạm phát cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động vốn của KBNN.
Nhân tố chủ quan
- Nhân tố lãi suất: Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới việc huy động vốn. Người dân mua trái phiếu Chính phủ trước tiên phải xem xét yếu tố lãi suất vì cho Nhà nước vay cũng là đầu tư gián tiếp, mà đầu tư phải sinh lợi, ít nhất là sinh lợi đó phải bằng lợi tức bình quân của các ngành kinh tế đạt được sau khi bảo toàn vốn. Song lãi suất Chính phủ chưa hấp dẫn được người dân trong khi người dân có thói quen gửi tiết kiệm Ngân hàng vì lãi suất Ngân hàng cao hơn, linh hoạt hơn, dễ rút vốn hơn.
Thực tế đã có nhiều đợt lãi suất Ngân hàng cao hơn nên dân đã rút tiền ra chịu không hưởng lãi để quay sang gửi tiết kiệm Ngân hàng. Hiện nay lãi suất trái phiếu Chính phủ đã phần nào hấp dẫn được dân chúng, do vậy việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ ở hệ thống KBNN đã tăng lên.
- Nhân tố thông tin, tuyên truyền: Do thông tin, tuyên truyền còn hạn chế, chưa tổ chức được mạng lưới tuyên truyền rộng rãi trên địa bàn cả nước, chưa có hoạt động Marketing chuyên sâu nên người dân chưa quen với trái phiếu Chính phủ. Tập quán cho Nhà nước vay dài hạn chưa hình thành vững chắc trong dân cư nên họ chưa tin vào tương lai của việc mua trái phiếu.
- Nhân tố về tổ chức công tác huy động vốn: Việc tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ tại các địa bàn như thế nào cũng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới việc huy động vốn.