Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Độ an toàn về mặt tài chính của dự án là một yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả của qúa trình đầu tư. Điều này đòi hỏi phải xem xét một cách kỹ lưỡng trong quá trình phân tích và thẩm định tài chính dự án đầu tư. Nó là một căn cứ quan ...
Độ an toàn về mặt tài chính của dự án là một yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả của qúa trình đầu tư. Điều này đòi hỏi phải xem xét một cách kỹ lưỡng trong quá trình phân tích và thẩm định tài chính dự án đầu tư. Nó là một căn cứ quan trọng để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính.
Tính khả thi về mặt tài chính của dự án được đánh giá không chỉ qua các chỉ tiêu phản ánh mặt tài chính của dự án như: IRR, NPV, B/CR … mà còn thể hiện thông qua việc xem xét độ an toàn về tài chính, nó được thể hiện qua các yếu tố sau :
An toàn về nguồn vốn chủ yếu là
- Các nguồn vốn huy động phải được đảm bảo không chỉ đủ về số lượng mà còn phải phù hợp với tiến độ cần bỏ vốn.
- Tính đảm bảo về pháp lý và cơ sở thực tiễn của các nguồn vốn huy động.
- Xem xét các điều kiện cho vay vốn, hình thức thanh toán và trả nợ vốn.
Ngoài ra trong việc huy động vốn cần bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa vốn tự có (bao gồm cả vốn góp cổ phần và liên doanh) và vốn đi vay (tỷ lệ này phải đảm bảo ≥ 1).
An toàn về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng trả nợ được thể hiện qua việc xem xét chỉ tiêu
| Tỷ lệ giữa tài sản lưu động so với nợ ngắn hạn (còn được gọi là tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành) | = |
| Tài sản lưu động | |
| Nợ ngắn hạn |
Tài sản lưu động thường bao gồm một số vốn bằng tiền mặt, các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho) : Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả khác … Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ lệ này phải ≥ 1 và được xem xét cụ thể cho từng ngành nghề kinh doanh.
Đối với độ an toàn về khả năng trả nợ của dự án. Các dự án có vốn vay để đầu tư cần phải xem xét khả năng trả nợ. Khả năng này được đánh giá trên cơ sở nguồn thu và nợ (nợ gốc và lãi) phải trả hàng năm của dự án. Việc xem xét này được thể hiện thông qua bảng cân đối thu chi và tỷ số khả năng trả nợ của dự án.
| Tỷ số khả năng trả nợ của dự án | = |
| Nguồn trả nợ hàng năm của dự án | |
| Nợ phải trả hàng năm (gốc và lãi) |
Nguồn trả nợ hàng năm của dự án gồm lợi nhuận (sau khi trừ thuế thu nhập) khấu hao cơ bản mà lãi phải trả hàng năm.
Nợ phải trả hàng năm do người vay quyết định có thể theo mức đều đặn hàng năm. Khi đó mức trả nợ hàng năm (ký hiệu A) được tính theo công thức :
Trong đó : Ivo - Tổng số vốn vay
n : Thời hạn phải trả nợ
r : Lãi suất phải trả
Mức trả hàng năm có thể là trả nợ gốc đều trong một số năm, trả lãi hàng năm tính trên số vốn vay còn lại, có thể trả nợ theo mức thay đổi hàng năm …
Tỷ số khả năng trả nợ của dự án được so sánh với mức quy định chuẩn, mức này được xác định theo từng ngành nghề, dự án được đánh giá là có khả năng trả nợ khi tỷ số khả năng trả nợ của dự án phải đạt được mức quy định chuẩn.
Ngoài ra khả năng trả nợ của dự án còn được đánh giá thông qua việc xem xét sản lượng và doanh thu tại điểm hoà vốn trả nợ.
Khả năng trả nợ của dự án đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án. Tuy đã đề cập đến thời gian thu hồi vốn trong phần chỉ tiêu hiệu quả đầu tư. Nhưng đối với một dự án vay vốn để đầu tư, đây là yếu tố đặc biệt ảnh hưởng tới hiệu quả, sự thành công của dự án. Bởi vì nó cũng là chỉ tiêu để các nhà cung cấp tín dụng cho dự án quan tâm và coi là một trong các tiêuchuẩn để chấp nhận cung cấp tín dụng cho dự án hay không.
Độ nhạy của dự án.
Là sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (lợi nhuận, hiện giá thu nhập thuần, hệ số hoàn vốn nội bộ …) khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi.
Phân tích độ nhạy nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án (hay của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án) đối với sự biến động của các yếu tố liên quan. Hay nói cách khác, phân tích độ nhạy nhằm xác định hiệu quả của dự án đầu tư trong điềukiện biến động của các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính là rất cần thiết khi tiến hành đầu tư - các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư khi nó thay đổi.
Việc phân tích này giúp cho các doanh nghiệp (hay các chủ đầu tư) biết được dự án nhạy cảm với các yếu tố nào, hay nói cách khác là yếu tố nào gây nên sự biến đổi nhiều nhất của chỉ tiêu hiệu quả, xem xét để từ đó có biện pháp quản lý chúng trong quá trình thực hiện đầu tư. Mặt khác việc phân tích độ nhạy của dự án còn cho phép lựa chọn được những dự án có độ an toàn hơn cho những kết quả dự tính. Dự án có độ an toàn cao là những dự án vẫn đạt được hiệu quả tốt khi các yếu tố tác động đến nó thay đổi theo chiều hướng không có lợi.
Do vậy, để giảm thiếu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả, doanh nghiệp cần tiến hành phân tích độ nhạy của các dự án trước khi tiến hành đầu tư theo một số cơ sở lý thuyết. Có như vậy mới đạt được hiệu quả cao trong quá trình đầu tư SXKD.
Rủi ro là điều hay xảy ra trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong hoạt động đầu tư. Rủi ro có thể là sự thay đổi cơ chế, chính sách theo chiều hướng không có lợi cho doanh nghiệp (nhà đầu tư). Rủi ro có thể là sự biến động bất lợi của nhu cầu thị trường, của giá cả sản phẩm, của quan hệ quốc tế … Hiện tại, chiến tranh cũng là những yếu tố gây rủi ro cho hoạt động SXKD. Do đó, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng phải xem xét các yếu tố rủi ro có thể xảy ra, từ đó có biện pháp nhằm hạn chế tác động của các rủi ro, đồng thời dự kiến mức độ cần đạt của hoạt động sản xuất kinh doanh khi điều kiện thuận lợi để bù đắp lại những tồn thất khi rủi ro gây ra.
Thực tế trong cơ chế thị trường, vừa tạo ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội đầu tư, nhưng lại vừa chứa nhiều rủi ro mà hầu như doanh nghiệp nào cũng gặp phải khi tham gia vào đó. Muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải chấp nhận sự tồn tại rủi ro và từ đó có thể phát triển cùng rủi ro. Tuy nhiên chấp nhận rủi ro không có nghĩa là doanh nghiệp lao vào rủi ro một cách bất chấp, mà họ cần phải tính toán, phân tích rủi ro để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn, nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Khi đưa ra các quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liệu giả định. Những số liệu này đôi khi không thể lường trước những tình huống bất trắc sẽ nảy sinh trong tương lai, dẫn đến tình trạng là khi lập dự án đầu tư thì rất khả thi (rất có hiệu quả), nhưng khi thực hiện thì dự án gặp rất nhiều khó khăn, nhiều dự án do thua lỗ quá nhiều nên phải chấm dứt hoạt động trước thời gian. Chính vì vậy khi xây dựng một dự án các doanh nghiệp cần phân tích đầy đủ, cần lường trước được những tình huống bất trắc sẽ nảy sinh trong tương lai, trên cơ sở đó tính toán lại hiệu quả đầu tư. Nếu trong trường hợp bất trắc nảy sinh mà dự án vẫn có hiệu quả thì đó là một dự án vững chắc, có thể chấp nhận được. Ngược lại, doanh nghiệp phải có các biện pháp phòng chống rủi ro, hoặc phải khước từ dự án đó.
Yếu tố trượt giá - lạm phát
* Trượt giá : là sự tăng giá của một mặt hàng cụ thể.
* Lạm phát : là sự giảm sức mua của đồng tiền của thời điểm này so với thời điểm trước đó.
Trượt giá và lạm phát là yếu tố khách quan tác động đến các khoản thu chi và mức lãi xuất thực tế của dự án. Bởi vậy để đánh giá đúng hiệu quả tài chính của dự án cần xem xét đến các yếu tố trượt giá và lạm phát thì mới đảm bảo được sự chính xác.
Lựa chọn (dự án) phương án đầu tư
Phân tích dự án đầu tư không chỉ nhằm khẳng định tính khả thi của dự án, mà điều quan trọng nữa là lựa chọn được phương pháp tối ưu trong các phương án có thể có. Có nghĩa là khi phân tích phải đưa ra nhiều phương án để lựa chọn.
Việc so sánh lựa chọn phương án có thể được tiến hành trên các khía cạnh khác nhau như công nghệ kỹ thuật, tài chính, kinh tế - xã hội . Song ở đây chúng ta chỉ đề cập đến vấn đề so sánh lựa chọn phương án đầu tư theo khía cạnh tài chính. Trên góc độ đó chúng ta xem xét để lựa chọn bằng cách sử dụng độ đo hiệu quả tài chính như : Thu nhập thuần lớn nhất, chi phí nhỏ nhất, thời gian thu hồi vốn ngắn nhất, điểm hoà vốn nhỏ nhất, thời hạn thu hồi vốn đầu tư tăng thêm ≤ định mức ; điểm giới hạn r ≤ IRR ; IRR vốn đầu tư tăng thêm ≥ r giới hạn, RR ≥ r giới hạn và lớn nhất.
Như vậy, có lựa chọn phương án đầu tư đúng đắn ban đầu thì hiệu quả của quá trình đầu tư phát triển sau này mới được nâng cao. Đồng thời không bỏ phí những phương án có hiệu quả cao hơn (đây là một điều thuộc vào lý thuyết đó là chi phí cơ hội) đi đầu tư phương án hiệu quả thấp hơn hoặc không có hiệu quả.
Qua phần lý luận ở chương I trên đây tôi đã trình bày một cách toàn diện về lý thuyết đầu tư và hiệu quả đầu tư sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Để từ đó thấy nổi bật lên một điều giản dị mà chân lý chính là "hiệu quả". Hiệu quả là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chỉ đạo các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất kinh doanh không những chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn lợi ích cho toàn xã hội. Cũng như một quy tắc đơn giản, hiệu quả sẽ lại trở thành một nhân tố thúc đẩy đầu tư. Các nhà đầu tư kỳ vọng ở hiệu quả … Nắm rõ được những chỉ tiêu hiệu quả, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả. Nhà đầu tư sẽ tìm được cho mình những phương pháp, biện pháp đầu tư đúng đắn. Có những biến lược cạnh tranh hợp lý, có những cách thức duy trì vị thế và mở rộng thị trường thuận lợi nhất …