24/05/2018, 22:26

Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường-Chương mở đầu

Chương mở đầu Khái quát về kinh tế và môi trường Kinh tế môi trường mới chỉ xuất hiện và phát triển trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX do nhu cầu bức bách của thực tiễn. Để hiểu rõ hơn nội dung nghiên cứu của môn khoa học non trẻ này, trước ...

Chương mở đầu

Khái quát về kinh tế và môi trường

Kinh tế môi trường mới chỉ xuất hiện và phát triển trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX do nhu cầu bức bách của thực tiễn. Để hiểu rõ hơn nội dung nghiên cứu của môn khoa học non trẻ này, trước hết cần phải nắm bắn được cơ sở nền tảng của kinh tế học.

Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu về việc con người và xã hội lựa chọn như thế nào để sử dụng những nguồn tài nguyên khan hiếm nhằm sản xuất ra các loại hàng hoá (dịch vụ) và phân phối cho tiêu dùng hiện tại hoặc tương lai của các cá nhân và các nhóm người trong xã hội.

Kinh tế học ra đời cách đây hơn hai thế kỷ, kể từ khi Adam Smith cho xuất bản cuốn sách "Của cải của các dân tộc" vào năm 1776.

Kinh tế học có thể được phân chia theo các lĩnh vực của đời sống kinh tế, theo hướng nghiên cứu hoặc theo phương pháp luận đang được sử dụng v.v…, nhưng cách chia kinh tế học thành kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô là cách phân loại phổ biến nhất, vì nó bao quát được một số lượng các môn kinh tế chuyên sâu theo từng lĩnh vực cụ thể.

Kinh tế học vĩ mô tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các quan hệ tương tác trong nền kinh tế. Nó cố ý đơn giản hoá các khối cấu trúc riêng biệt trong phân tích nhằm làm cho quá trình phân tích toàn bộ mối quan hệ tương tác trong nền kinh tế có thể nắm bắt được một cách dễ dàng. Ví dụ, các nhà kinh tế vĩ mô thường không quan tâm đến việc phân loại hàng tiêu dùng thành các mặt hàng như xe đạp, mô tô, vô tuyến hay máy tính, mà họ thường nghiên cứu tất cả các mặt hàng này dưới dạng nhóm "hàng tiêu dùng", vì họ quan tâm chủ yếu đến mối quan hệ tương tác giữa việc mua hàng tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình và quyết định mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng của các hãng.

Kinh tế vi mô phân tích và nghiên cứu chi tiết các quyết định cá nhân về loại hàng hoá (dịch vụ) cụ thể. Ví dụ, ta có thể nghiên cứu xem tại sao các hộ gia đình lại thích mua mô tô hơn là xe đạp và người sản xuất quyết định như thế nào trong việc lựa chọn sản xuất mô tô hay xe đạp. Sau đó, ta có thể tập hợp các quyết định của tất cả các hộ gia đình và của tất cả các công ty (người sản xuất) lại để bàn xem tổng mức mua và tổng sản lượng mô tô là bao nhiêu. Trong kinh tế vi mô, lý thuyết cân bằng tổng thể là một lĩnh vực khá phức tạp. Lý thuyết này nghiên cứu đồng thời tất cả các thị trường cho tất cả các loại hàng hoá (dịch vụ). Từ đó, bằng cách suy luận lôgíc, ta có thể hiểu được toàn bộ cơ cấu tiêu dùng, sản xuất và trao đổi trong toàn bộ nền kinh tế tại một thời điểm nhất định.

Kinh tế môi trường nghiên cứu các vấn đề môi trường với viễn cảnh và những ý tưởng phân tích kinh tế. Nó khai thác từ cả hai phía: kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô, nhưng từ kinh tế vi mô nhiều hơn. Kinh tế môi trường tập trung chủ yếu vào vấn đề người ta ra quyết định như thế nào, tại sao gây ra những hậu quả đối với môi trường và chúng ta có thể thay đổi các thể chế, chính sách kinh tế ra sao để đưa các tác động môi trường vào thế cân bằng hơn, ổn định hơn với những mong muốn và yêu cầu của chúng ta và của bản thân hệ sinh thái. Vì vậy, một trong những việc đầu tiên là phải làm quen với những ý tưởng cơ bản và các công cụ phân tích của kinh tế vi mô. Dựa vào những cơ sở phương pháp luận và phương pháp của kinh tế vi mô, các nhà kinh tế môi trường phải lý giải một cách đúng đắn và rõ ràng hàng loạt vấn đề đặt ra như tại sao môi trường lại bị suy thoái, sự suy thoái môi trường dẫn đến những hậu quả gì và có thể làm gì để ngăn chặn và giảm sự suy thoái môi trường một cách có hiệu quả nhất? Có nhiều loại câu trả lời cho các vấn đề nêu trên. Chẳng hạn, ta có thể cho rằng môi trường bị suy thoái là do hành vi và thái độ ứng xử của con người trái với luân thường, đạo lý. Vì thế, để bảo vệ tốt môi trường, cần phải không ngừng nâng cao nhận thức về môi trường, thường xuyên giáo dục đạo đức môi trường cho toàn thể cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau. Đó cũng là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ một xã hội văn minh nào. Tuy nhiên, nâng cao ý thức trách nhiệm, giáo dục đạo đức môi trường là việc làm thường xuyên, là một quá trình lâu dài nhằm cải tạo và xây dựng mới đạo đức, tác phong và lối sống sao cho thân thiện với môi trường. Để làm được việc đó, đòi hỏi phải có thời gian và không thể cùng một lúc giải quyết được tất cả các vấn đề môi trường quan trọng và cấp bách đang đặt ra.

Cách trả lời thứ hai cho vấn đề tại sao người ta lại gây ô nhiễm môi trường, làm cho môi trường bị suy thoái là cách xem xét về mặt kinh tế và xem xét các cơ quan, thiết chế kinh tế (và xã hội) được cấu trúc ra sao và hoạt động như thế nào mà có thể tạo điều kiện dễ dàng cho người ta phá hoại môi trường. (Cơ quan, thiết chế kinh tế chúng tôi dùng ở đây là bao gồm các tổ chức công cộng và tư nhân, luật pháp và các tổ chức mà xã hội sử dụng để cấu trúc hoạt động kinh tế. Ví dụ: thị trường, các công ty, sở hãng công cộng, cơ quan luật thương mại, v.v…). Chúng ta dễ nhận biết rằng, người ta gây ô nhiễm, làm suy thoái môi trường là vì đó là phương cách rẻ tiền nhất để giải quyết chất thải còn lại sau khi người tiêu dùng đã dùng xong một thứ gì đó, hoặc sau khi người sản xuất đã sản xuất xong một thứ gì đó. Người đó có những quyết định này về sản xuất, tiêu thụ và thanh toán chất thải trong phạm vi một số cơ quan, thiết chế kinh tế và xã hội. Các cơ quan, thiết chế này cấu trúc nên những khuyến khích, dẫn dắt người ta quyết định theo hướng này, chứ không phải theo hướng khác. Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là nghiên cứu và thiết kế quy trình khuyến khích hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là cấu trúc lại nó sao cho có thể định hướng người ta ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển phong cách và lối sống thân thiện, lành mạnh với môi trường.

Có ý kiến cho rằng, người ta gây ô nhiễm, làm suy thoái môi trường là vì động cơ lợi nhuận. Do đó, cách duy nhất để giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng môi trường là làm giảm động cơ lợi nhuận. Điều này đúng, nhưng hoàn toàn chưa đủ, bởi vì không chỉ có các công ty, xí nghiệp do động cơ lợi nhuận thúc đẩy, nên gây ra ô nhiễm môi trường, mà cả các cá nhân người tiêu dùng cũng đang gây ra ô nhiễm môi trường khi đổ rác thải bừa bãi xuống các cống rãnh, ao, hồ hoặc sử dụng các phương tiện giao thông có động cơ cũ kỹ, lạc hậu, xả nhiều khói, v.v…, Ở đây, các cá nhân người tiêu dùng không hề nghĩ đến lỗ hay lãi, cho nên bản thân lợi nhuận không phải là nguyên nhân làm cho người ta gây ô nhiễm môi trường. Tương tự như vậy, nhiều doanh nghiệp Nhà nước sản xuất các hàng hoá (dịch vụ) công cộng đôi khi đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà không hề bị thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận. Hoặc là, trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp trước đây là những nền kinh tế thiếu động cơ lợi nhuận, nhưng môi trường vẫn bị suy thoái nghiêm trọng ở một số vùng; không khí và nguồn nước bị ô nhiễm nặng ở nhiều thành phố và khu công nghiệp, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của dân cư và phá vỡ cân bằng sinh thái, v.v… Như vậy, động cơ lợi nhuận bản thân nó không phải là nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái, ô nhiễm môi trường.

Những điều phân tích trên chứng tỏ rằng, các khuyến khích có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của một hệ thống kinh tế. Thuật ngữ "khuyến khích" ở đây được hiểu là một cái gì đó hút người ta vào hay đẩy người ta ra khỏi một chuẩn (đích) nhất định, kích thích, hướng và dẫn dắt người ta phát huy cách ứng xử hợp chuẩn, sửa đổi cách ứng xử lệch chuẩn. "Khuyến khích kinh tế" là một cái gì đó thuộc phạm trù kinh tế có tác dụng hướng dẫn người ta tập trung cố gắng của mình vào sản xuất hoặc tiêu dùng kinh tế theo một số hướng nhất định. Khuyến khích kinh tế không chỉ là sự trả công bằng của cải vật chất, hướng dẫn hành vi, cách ứng xử của người ta sao cho có thể thu được ngày càng nhiều của cải vật chất mà còn có cả những khuyến khích phi vật chất, hướng dẫn người ta thay đổi hành vi, thái độ kinh tế, ví dụ như lòng tự trọng, sự mong muốn có một cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp hay ước vọng tạo nên một tấm gương tốt cho người khác noi theo.

Bất cứ một hệ thống kinh tế nào cũng sẽ gây ra những tác động phá hoại môi trường, nếu như các khuyến khích trong hệ thống kinh tế đó không được cấu trúc để tránh các tác động xấu. Các nhà kinh tế môi trường cần phải đi nghiên cứu bản chất, cơ chế hoạt động của các hệ thống kinh tế để hiểu được các hệ thống khuyến khích của chúng hoạt động ra sao và có thể thay đổi chúng như thế nào để có được một nền kinh tế phát triển một cách hợp lý, hoạt động có hiệu quả, mà không gây ra những tác động xấu đến môi trường. Các hệ thống khuyến khích rất phong phú và đa dạng, có thể được phân thành các nhóm chủ yếu sau đây:

- Các khuyến khích cá nhân và hộ gia đình nhằm giảm dần lượng chất thải trong sinh hoạt và tăng cường sử dụng các sản phẩm có ít chất thải hơn. Ví dụ: áp dụng chế độ trả tiền lệ phí theo số lượng rác thải hàng tháng hay hàng năm thay cho độ thu lệ phí thu gom rác thải quân bình và cố định theo thời gian hay theo đầu người.

- Các khuyến khích doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp, nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp tìm mọi cách để giảm các chất thải trong quá trình sản xuất bằng cách thông qua và cưỡng chế thi hành các luật, pháp lệnh, nghị định, quy chế có liên quan đến bảo vệ môi trường, bằng cách soạn thảo và áp dụng hệ thống khuyến khích tài chính sao cho có thể hấp dẫn các doanh nghiệp gây ô nhiễm ít hơn. Ví dụ: kết hợp thuế tài sản của doanh nghiệp với thành tích bảo vệ môi trường; tuỳ theo mức độ gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp mà đánh thuế cao hay thấp, hoặc xét miễn giảm thuế. Nếu doanh nghiệp thải nhiều chất độc hại làm ô nhiễm môi trường thì sẽ bị đánh thuế cao và ngược lại.

- Các khuyến khích ngành nhằm hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường và các ngành sản xuất khác dựa trên cơ sở sử dụng các quy trình công nghệ không có hoặc có ít chất thải. Công nghiệp môi trường là ngành công nghiệp phát triển các phương pháp kỹ thuật xử lý chất thải, tái tuần hoàn, sản xuất các máy móc, thiết bị mới kiểm tra ô nhiễm môi trường và nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới giám sát ô nhiễm môi trường. Xây dựng và phát triển rộng rãi các quy trình công nghệ không có hoặc có ít chất thải nhằm cung cấp cho thị trường các sản phẩm mới không có hại cho môi trường, sạch và an toàn đối với sức khoẻ của con người.

- Soạn thảo chính sách môi trường nhằm cải thiện chất lượng môi trường một cách có hiệu quả.

Trong việc soạn thảo các chính sách môi trường, kinh tế môi trường đóng vai trò chủ yếu nhất. Có rất nhiều kiểu, loại chương trình và chính sách công cộng dành cho các vấn đề môi trường ở tất cả các cấp: địa phương, vùng, quốc gia, tiểu khu vực, khu vực và quốc tế. Chúng khác nhau nhiều về hiệu quả cũng như hiệu lực. Một số các chương trình và chính sách môi trường được soạn thảo tốt và rõ ràng là có những tác động tích cực, có lợi cho môi trường. Còn đa số các chương trình và chính sách môi trường chưa được soạn thảo tốt nên chưa đi vào thực tế cuộc sống, hiệu quả thấp. Chính vì hiệu quả chi phí thấp, thậm chí không có hiệu quả, nên chúng thường kết thúc với những chi phí rất lớn và ít có tác dụng đối với việc cải thiện chất lượng môi trường. Vì thế, việc nghiên cứu để soạn thảo các chính sách môi trường sao cho có hiệu quả, có hiệu lực và khả thi là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của kinh tế môi trường.

Các nhóm khuyến khích nêu trên là những vấn đề của kinh tế vĩ mô. Chúng định hướng hành vi và thái độ ứng xử hợp lý của các cá nhân và tập thể người tiêu dùng cũng như người sản xuất. Tuy nhiên, các vấn đề môi trường còn liên quan chặt chẽ với thái độ của kinh tế học vĩ mô, tức là liên quan chặt chẽ với cơ cấu và thành tựu kinh tế của cả một quốc gia với tư cách là một đơn vị thống nhất, bởi vì khi chúng ta nghiên cứu các vấn đề như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, v.v… là chúng ta đang tập trung vào những thành tựu của quốc gia đó như là một tổng thể, nghĩa là chúng ta đang nghiên cứu kinh tế vĩ mô.

Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường có quan hệ rất mật thiết với tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Ở đây có hàng loạt các câu hỏi mà các nhà kinh tế môi trường cần phải tìm cho được các câu trả lời đúng đắn, thoả đáng.Ví dụ: Các chính sách môi trường nghiêm ngặt hơn có tạo ra khuynh hướng làm chậm sự tăng trưởng kinh tế và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp hay không? Nếu có, thì bao nhiêu? Các quy tắc, điều lệ về môi trường có tác động đến tỷ lệ lạm phát hay không? Nếu có, thì tác động như thế nào?

Ngược lại, các vấn đề của kinh tế vĩ mô cũng liên quan chặt chẽ với các vấn đề môi trường. Ở đây cũng tồn tại vô số các câu hỏi thuộc phạm trù kinh tế môi trường. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế có tác động đến chất lượng môi trường hay không? Nếu có, thì tác động như thế nào? Có phải tỷ lệ tăng trưởng càng cao, nghĩa là biện pháp truyền thống của chúng ta như GDP, thì môi trường càng bị suy thoái hay không, hay là ngược lại? Đây là những vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với nước ta đang bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

Kinh tế môi trường sử dụng rất nhiều loại công cụ phân tích, trước hết là phân tích chi phí - hiệu quả và phân tích chi phí - lợi ích.

Phân tích chi phí - hiệu quả là công cụ mà các nhà kinh tế môi trường sử dụng để tìm cách làm sao cho có thể hoàn thành tốt mục tiêu chất lượng môi trường đã cho với số tiền ít nhất. Nói cách khác là họ tìm cách tốn ít tiền nhất để hoàn thành mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường đã định nào đó. Ví dụ: phân tích chi phí - hiệu quả của các phương án kỹ thuật giảm thiểu tiêu thụ nhiên liệu - năng lượng, nguyên vật liệu trong sản xuất sao cho tốn ít tiền nhất mà vẫn bảo đảm số lượng và chất lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường.

Khi phân tích chi phí - hiệu quả, các nhà kinh tế môi trường chỉ quan tâm đến chi phí để thực hiện một vài mục tiêu môi trường đề ra, còn trong phân tích chi phí - lợi ích, thì cả chi phí lẫn lợi ích của một chương trình hay một chính sách nào đó được đo lường và biểu diễn bằng những điều kiện có thể so sánh với nhau được. Phân tích chi phí - lợi ích là công cụ phân tích chủ yếu mà các nhà kinh tế môi trường dùng để đánh giá các quyết định về môi trường. Nó được sử dụng vào những năm đầu thế kỷ XX để đánh giá một số dự án như phát triển nguồn nước chẳng hạn. Ngày nay, nó được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ khu vực công cộng. Đôi khi người ta dùng nó để hỗ trợ cho việc lựa chọn chính sách hữu hiệu nhất, đôi khi một công ty nào đó dùng nó để biện minh cho điều họ muốn làm và đôi khi các cơ quan Chính phủ dùng nó trong việc nghiên cứu ban hành hoặc xoá bỏ các quy chế, thể chế. Phân tích lợi ích - chi phí là công cụ quan trọng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trong kinh tế môi trường.

Kinh tế môi trường còn quan tâm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề quốc tế của môi trường. Không phải tất cả các vấn đề về môi trường đều liên quan đến ô nhiễm và cũng không phải tất cả các vấn đề môi trường đều xẩy ra trong các nước riêng lẻ. Môi trường là vấn đề mang tính vùng, không phân biệt ranh giới hành chính địa phương hay quốc gia. Môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu. Để giải quyết những vấn đề môi trường cấp bách toàn cầu như bảo tồn đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu, v.v…, cần động viên trí tuệ và nguồn lực của mọi quốc gia, cần nỗ lực chung của cộng đồng thế giới. Nhiệm vụ của các nhà kinh tế môi trường là nghiên cứu các phương pháp chi phí hữu hiệu nhất, vấn đề thực hiện quyền tài sản quốc gia, vấn đề chuyển giao công nghiệp quốc tế, vấn đề phân chia chi phí cho các nước giàu và các nước nghèo sao cho công bằng, vấn đề chia sẻ lợi ích dịch vụ môi trường v.v…

Đối tượng của môn học

Môi trường (MT) đang là vấn đề cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt đối với tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên hành tinh, trong đó có Việt Nam. Giải quyết vấn đề vô cùng rộng lớn và phức tạp này, đòi hỏi sự cố gắng thường xuyên, nỗ lực chung của mọi cá nhân, mọi cộng đồng, mọi quốc gia và toàn thể nhân loại, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ liên ngành của nhiều môn khoa học, trong đó có KINH TẾ MÔI TRƯỜNG (Environmental Economics).

Kinh tế môi trường là một môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường(hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất)nhằm đảm bảo một sự phát triển ổn định,hiệu quả,liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm.

Nhiệm vụ của môn học

1. Trang bị những cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường .

2. Trang bị những cơ sở lý luận để nhìn nhận, phân tích đánh giá môi trường trong bối cảnh của cơ chế thị trường.

3. Đánh giá những tác động (tích cực và tiêu cực) của các hoạt động phát triển (kinh tế và xã hội) đến môi trường. Tiếp cận phân tích kinh tế của những tác động tới môi trường.

4. Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa tài nguyên, dân số, kinh tế và môi trường.

5. Góp phần thẩm định các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển thông qua phân tích chi phí - lợi ích và phân tích chi phí - hiệu quả.

6. Góp phần hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển, những phương thức quản lý môi trường hợp lý.

7. Nâng cao nhận thức về môi trường, về mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa môi trường và phát triển để mọi cá nhân, mọi cộng đồng có hành vi đúng đắn vì mục đích phát triển bền vững. Đặc biệt là đối với các chuyên gia kinh tế và quản trị kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu môn học

Là một môn khoa học còn non trẻ, liên ngành và mang tính tổng hợp cao, KINH TẾ MÔI TRƯỜNG sử dụng nhiều quan điểm, nhiều phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, truyền thống cũng như hiện đại. Trong đó phải kể đến trước hết là:

1. Quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho phép chúng ta nhìn nhận và giải quyết vấn đề có cơ sở khoa học, đảm bảo tính lo gic, chẳng hạn ô nhiễm và suy thoái môi trường hay sự giảm sút đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đâu, hậu quả của những hiện tượng này sẽ gây ra những tác hại về kinh tế như thế nào? Sử dụng các quan điểm và phương pháp này sẽ loại trừ được những đánh giá có tính chủ quan, duy ý chí.

2. Quan điểm phân tích tĩnh, phân tích tĩnh so sánh và phân tích động.

- Phân tích tĩnh thực chất là phân tích cân bằng hiệu quả.

- Phân tích tĩnh so sánh thường được sử dụng khi có sự thay đổi của ngoại cảnh như biến động về giá do tác động ngoại ứng. Phương pháp sử dụng thường là phân tích biên, sử dụng phép toán vi phân để xem xét.

- Phân tích động là phương pháp phân tích và xem xét biến thiên theo thời gian.

3. Tiếp cận hệ thống, phân tích hệ thống và cân bằng vật chất.

Môi trường thực chất là một hệ thống của các thành phần tự nhiên và vật chất nhân tạo có mối quan hệ ràng buộc với nhau trong một trạng thái cân bằng động, chính vì vậy sử dụng phương pháp phân tích hệ thống và cân bằng vật chất cho phép tìm ra được những thành phần môi trường bị tác động, từ đó xác định nguyên nhân gây ra biến đổi môi trường, sự mất cân bằng của hệ thống vật chất, tác động tới hoạt động kinh tế và cuộc sống con người.

4. Các phương pháp đánh giá tác động môi trường (EIA), lượng hóa tác động tới môi trường.

Sử dụng các phương pháp đánh giá tác động tới môi trường là cơ sở để chúng ta lượng hoá những tác động đó ra gia trị tiền tệ. Những phương pháp này chủ yếu được sử dụng đánh giá những thiệt hại gây ra cho môi trường.

5. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích.

Với phương pháp này chủ yếu sử dụng quan điểm phân tích kinh tế để nghiên cứu. Chi phí và lợi ích trong nghiên cứu kinh tế môi trường không chỉ tính tới chi phí và lợi ích cá nhân mà còn bao gồm cả những chi phí và lợi ích đối với tài nguyên và môi trường.

6. Phương pháp mô hình.

Kinh tế học môi trường hiện đại thường sử dụng các mô hình để lượng hoá giá trị bằng tiền các tác động tới môi trường hoặc dự báo xu hướng của những biến đổi về kinh tế do tác động tới môi trường. Những mô hình thường sử dụng có nguồn gốc từ cơ sở toán học và mô hình kinh tế truyền thống được mở rộng và tính tới các yếu tố môi trường.

Trong phần một khái quát về kinh tế và môi trường, trong đó phân tích xuất xứ và sự ra đời của Kinh tế học môi trường, liên quan của môn học này với các môn khoa học khác, đặc biệt là với kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô, trên cơ sở đó làm rõ tính đặc thù của kinh tế học môi trường là gì?

Trong phần hai về đối tượng của môn học, phân tích của nội dung chỉ rõ vấn đề cơ bản là nghiên cứu môi quan hệ gữa Kinh tế và môi trường.

Phần ba về nhiệm vụ của môn học, có bảy nhiệm vụ cơ bản được trình bày khi thực hiện nghiên cứu nội dung khoa học liên quan đến Kinh tế môi trường.

Phần bốn trình bày sáu quan điểm và phương pháp nghiên cứu cơ bản đòi hỏi người học cần phải nắm được khi nghiên cứu Kinh tế môi trường.

Câu hỏi ôn tập chương mở đầu.

1. Vai trò và vị trí của Kinh tế môi trường trong hệ thống các khoa học Kinh tế.

2. Trình bày đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn Kinh tế môi trường.

0