Xin hỏi ai là người đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ mà nhân dân ta đang dùng hiện nay?
Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 19 và 20 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì chữ Quốc ngữ là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha), ...

Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 19 và 20
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì chữ Quốc ngữ là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha), thêm các chữ ghép và chín dấu phụ- bốn dấu tạo ra các âm mới và năm dấu còn lại dành cho thể hiện thanh điệu của từ.
Hai loại dấu phụ có thể được viết cùng trên một chữ cái nguyên âm. Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 19 và 20 nhưng đã xuất hiện phôi thai từ lâu, vào thế kỷ 16, năm 1533 khi các giáo sĩ phương Tây đi từ đường biển vào truyền đạo Thiên chúa ở huyện Nam Trực và huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp với người Việt rồi vì nhu cầu học hỏi ngôn ngữ Việt (lúc đó còn dùng chữ Hán và chữ Nôm) để giao tiếp với người bản xứ mà bắt đầu ghi lại bằng cách phiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh. Trước tiên là giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxicô; kế đến là giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh.
Sang thế kỷ 17 thì số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này càng nhiều, kèm theo những biến đổi hoàn chỉnh với ký hiệu thanh giọng thêm chính xác. Tên tuổi những giáo sĩ đã tiên phong góp công trong việc hoàn chỉnh lối chữ này gồm có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Francisco de Pina.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, người Pháp được coi là người có công nhiều trong việc định chế chữ quốc ngữ qua cuốn tự điển phiên âm "Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum" mà ông soạn và in ra năm 1651. Tuy là người Pháp nhưng ông lại dùng tiếng Bồ Đào Nha trong cuốn tự điển cùng những đóng góp của tiếng Ý và tiếng Pháp.
Soạn giả còn ghi rõ ông mượn dấu sắc, huyền, ngã từ tiếng Cổ Hy Lạp mà vẫn không đủ nên phải thêm dấu nặng và dấu hỏi để biểu lộ thanh giọng của tiếng Việt. So sánh ký hiệu thì âm "nh" theo tiếng Bồ; "gi" theo tiếng Ý; còn "ph" theo tiếng Cổ Hy Lạp.
Các văn bản Công giáo thời kỳ này là tài liệu ghi chép quan trọng về cách phát âm của tiếng Việt cổ.