25/05/2018, 14:43

Võ miếu Huế

Võ Miếu Tên gọi: Người tạo nên: Vua Minh Mạng Kiến trúc: Trùng thiềm điệp ốc Vị trí: Quần thể di tích cố đô Huế ...

Võ Miếu

Tên gọi:

Người tạo nên: Vua Minh Mạng

Kiến trúc: Trùng thiềm điệp ốc

Vị trí: Quần thể di tích cố đô Huế

Bia đá tại , chứng tích còn lại của một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế

Võ Miếu hay Võ Thánh, gọi tắt của Võ Thánh miếu, tại Huế là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới triều Nguyễn, đây còn là nơi thờ một số danh tướng Trung Quốc.

Sau khi Văn miếu Huế được xây dựng, các tỉnh khác tại Việt Nam cũng lần lượt xây dựng Văn Miếu tại địa phương. Đến năm 1835 dưới thời Minh Mạng, theo kiến nghị của Bộ Lễ, vua Minh Mạng dụ rằng: "Điều cốt yếu trong việc trị nước phải gồm có cả văn lẫn võ, không thể thiên về một bên. Việc xây dựng Võ Miếu là việc nên làm... Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời nào cũng có người tài giỏi binh cơ mưu lược, huống chi triều đình ta từ lúc khai quốc cho đến giai đoạn Trung hưng, nhiều người ra mưu giúp nước, công lao rực rỡ không kém gì người xưa, cần biểu dương để khuyến khích nhân tài...". Vua chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ.

Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương.

Với chu vi khoảng 400m, kiến trúc gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, chính doanh 3 gian 2 chái, tiền doanh 5 gian. Phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Xung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có "Tể sinh sở", là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế.

Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), triều đình nhà Nguyễn cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu khắc ghi tên học, quê quán, chức tước và công trạng 10 danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng gồm: Trương Minh Giảng (người Gia Định), Phạm Hữu Tâm (người Thừa Thiên), Tạ Quang Cự (người Thừa Thiên), Nguyễn Xuân (Thanh Hoá), Phạm Văn Điển (Thừa Thiên), Phan Văn Thuý (Quảng Nam), Mai Công Ngôn (Thừa Thiên), Lê Văn Đức (Vĩnh Long),Trần Văn Trí (Gia Định) vàTôn Thất Bật (người Thừa Thiên). Năm 1854, do bị quy tội "dự mưu" trong chính biến của Hồng Bảo (anh vua Tự Đức), Tôn Thất Bật đã bị đục tên.

Tái tạo Hội thi Tiến sĩ Võ tại Festival Huế 2008

Quan giám khảo - Hội thi "Tiến sĩ võ"

Tân Tiến sĩ võ

Dưới thời Tự Đức, triều đình cho dựng thêm hai tấm "Tiến sĩ võ", ghi những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ: khoa Ất Sửu (1865), khoa Mậu Thìn (1868) và khoa Kỷ Tỵ (1869), bao gồm: Võ Văn Đức (Quảng Nam), Võ Văn Lương (Quảng Trị), Văn Vận (Thừa Thiên), Phạm Học (Quảng Nam), Nguyễn Văn Tứ (Bình Định), Dương Việt Thiệu (Thừa Thiên), Đỗ Văn Kiệt (Quảng Trị), Đặng Đức Tuấn (Bình Định), Trần Văn Hiển (Thừa Thiên) và Lê Văn Trực (Quảng Bình)

Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương..., trong miếu còn có bài vị thờ Quản Trọng, Lý Thạch, Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Quách Tử Nghi... là các danh tướng Trung Quốc.

Việc tế lễ ở Võ Miếu được tổ chức một năm 2 lần vào mùa thu và mùa xuân. Phẩm vật cúng tế có những quy định riêng, chủ yếu vẫn là tam sinh (trâu, heo, dê) và hương hoa, quả phẩm.

Võ Miếu được lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở

Văn thánh trồng thông, Võ thánh trồng bàng

Ngó vô Xã tắc hai hàng mù u

0