Đối tượng và phương pháp kế toán kiểm kê đánh giá sản phẩm
Xác định đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là nội dung đầu tiên và cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Chỉ khi nào xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng ...
Xác định đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là nội dung đầu tiên và cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Chỉ khi nào xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành thì mới có thể tiến hành tính toán chi phí sản xuất và giá thành chính xác, kịp thời.
Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất bao gồm nhiều nội dung kinh tế, công dụng khác nhau, phát sinh ở những địa điểm khác nhau. Mục đích của việc bỏ ra chi phí là tạo nên những sản phẩm, lao vụ. Những sản phẩm. Lao vụ của doanh nghiệp được sản xuất, chế tạo, thực hiện ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất khác nhau theo quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, để hạcht oán chi phí sản xuất được chính xác, kịp thời thì đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng kế toán tâpj hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất: là việc xác định phạm vi, giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí:
Để xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp, cần phải dựa vào những đặc điểm sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ: sản xuất giản đơn hay phức tạp, đối với sản xuất giản đơn thì đối tượng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm. Còn đối với sản xuất phức tạp thì có thể là bộ phận chi tiết, nhóm chi tiết sản phẩm.
- Loại hình sản xuất: sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt lớn. Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ có thể là đơn đặt hàng riêng biệt còn đối với sản xuất hàng loạt có thể là sản phẩm,chi tiết, nhóm chi tiết.
- Theo tính chất sản phẩm: Đơn nhất hay có kết cấu phức tạp. Đối với sản phẩm đơn nhất, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là từng loại sản phẩm với sản phẩm có kết cấu phức tạp thì có thể là từng bộ phận của sản phẩm.
Ngoài ra, ta cũng cần phải căn cứ vào những đặc điểm sau:
- Đặc điểm tổ chức của doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí.
- Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Yêu cầu tính giá thành .
Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm, quy trình sản xuất và trình độ quản lý của doanh nghiệp đó mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là:
+ Mỗi loại chi tiết, mỗi bộ phận
+ Nhóm chi tiết.
+ Mỗi loại sản phẩm, nhóm dịch vụ.
+ Mỗi đơn đặt hàng.
+ Mỗi công trình, hạng mục công trình.
Việc tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng quy định một cách hợp lý thì có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và cũng phục vụ tốt cho việc tính giá thành trung thực và hợp lý.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một trong phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Về cơ bản phương pháp hạch toán chi phí bao gồm các phương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ , theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm …Do vậy, để tính toán chính xác chỉ tiêu giá thành sản phẩm thì vấn đề cần thiết được nghiên cứu, lựa chọn ngay từ khâu tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là lựa chọn đúng đắn phương pháp hạch toán cho chi phí sản xuất và điều kiện quy định cho phương pháp đó.
Nội dung chủ yếu của phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ( hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất cho từng đối tượng đã xác định , phản ánh các chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng với một đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của mỗi phương pháp biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí. Có thể tập hợp thành 2 phương pháp chính như sau:
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Phương pháp này áp dụng đối với các chi phí liên quan đến đối tượng tập hợp chi phí đã xác định. Khi hạch toán, mọi chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến đối tượng nào được tập hợp riêng cho đối tượng đó.
- Phương pháp phân bổ chi phí chung : Phương pháp này áp dụng đối với các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng mà ta không thể thể hiện tập hợp trực tiếp. Do đó khi cần tập hợp theo đối tượng thì ta phải phân bổ hợp lý bộ phận chi phí này.
- Trình tự kế toán:
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mói có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời được. Trình tự này, phụ thuộc vào đặcc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vào trình độ công tác và quản lý hạch toán. Tuy nhiên, có thể khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:
- Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng.
- Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các nghành sản xuất kinh doanh phụ cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ.
- Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm, dịch vụ có liên quan.
- Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Trong điều kiện quản lý các doanh nghiệp nước ta hiện nay, doanh nghiệp sản xuất có thể sử dụng một trong hai phương pháp hạch toán phổ biến sau:
- Phương pháp kê khai thường xuyên: là phương pháp theo dõi một cách thường xuyên trên sổ kế toán( bảng kê nhập, xuất, tồn kho) và việc nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu, hàng hoá, sản phẩm dở dang, thành phẩm… Phương pháp này thường áp dụng đối với những doanh nghiệp có quy mô sản xuất kinh doanh lớn, tiến hành nhiều loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: là phương pháp kế toán không theo dõi một cách thường xuyên trên sổ kế toán ( bảng kê nhập, xuất, tồn kho…) và việc nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu, hàng hoá thành phẩm,… mà chỉ phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và hàng tồn kho cuối kỳ. Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, chỉ có một loại hoạt động sản xuất kinh doanh .
Tài khoản sử dụng:
Các tài khoản sử dụng chủ yếu trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên là:
- TK 621: Chi phí nguyên vật liệu, vật liệu trực tiếp.
- TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp.
- TK 627: Chi phí sản xuất chung.
- TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
- TK 621 – “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”.
Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí ( Phân xưởng, bộ phận sản xuất …) và được sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản 154 để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
- TK 622 – “ Chi phí nhân công trực tiếp”
Tài khoản này dùng để tập hợp số chi phí tiền công phải trả cho từng công nhân sản xuất trực tiếp sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp có mang tính chất lương, tiền thưởng và các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.
- TK 627 – “ Chi phí sản xuất chung”
TK 627 phản ánh những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp.
TK 627 cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất. TK 627 mở chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2 để theo dõi phản ánh riêng cho từng nội dung chi phí.
- TK 6271 – Chi phí nhân viên phân xưởng.
- TK 6272 – Chi phí vật liệu
- TK 6273 – Chi phí dụng cụ sản xuất.
- TK 6274 – Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- TK 6277 – Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- TK 6278 – Chi phí khác bằng tiền.
- TK 154 – “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm phục vụ cho việc tính giá thành. Ngoài ra, TK 154 còn phản ánh tất cả các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh phụ, thuê ngoài gia công chế biến. Đối với các doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ thì TK 154 chỉ dùng để phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
TK 154 được chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, từng công trình, hạng mục công trình…).
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
- Phương pháp kế toán chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Trường hợp doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để lắp ráp, gia công thêm thành phẩm thì nửa thành phẩm mua ngoài cũng được hạch toán vào chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp được căn cứ vào chứng từ xuất kho để tính ra giá trị thực tế vật liệu trực tiếp xuất dùng và căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để tập hợp. Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số sản phẩm …
Công thức phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu Tổng tiêu thức Tỷ lệ
phân bổ cho = phân bổ của x ( hệ số )
Trong đó:
Phương pháp hạch toán cụ thể:
- Xuất kho trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ: Nợ TK 621( chi tiết theo từng đối tượng )
- Có TK 152: Giá thành thực tế xuất dùng theo từng loại.
- Trường hợp nhận vật liệu về không nhập kho mà xuất dùng trực tiếp cho sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ thì căn cứ vào giá thực tế xuất dùng: Nợ TK 621 ( Chi tiết theo đối tượng ) Nợ TK 133(1331): Thuế VAT được khấu trừ ( với vật liệu mua ngoài và doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ).
Có TK 111, 112, 331: vật liệu mua ngoài.
Có TK 411: Nhận cấp phát, nhận liên doanh. Có TK 154: vật liệu tự sản xuất hay thuê ngoài gia công.
Có các TK khác( 311, 336, 338…): vật liệu vay, mượn…
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hoặc có phế liệu thu hồi:Nợ TK 152( chi tiết vật liệu )
- Có TK 621 ( chi tiết theo từng đối tượng )
- Phương pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp :
Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống như đối với chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp. Trưòng hợp cần phân bổ gián tiếp thì Tiêu thcs phân bổ là tiền công hay giờ công định mức hay cũng có thể là giờ công thực tề( chủ yếu là đối với tiền lương phụ của công nhân sản xuất ).
Phương pháp kế toán cụ thể như sau:
- Tính ra tổng số tiền công, tiền lương, tiền phụ cấp phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất trực tiếp ra sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ trong kỳ:
- Nợ Tk 622 ( chi tiết thoe đối tượng )
- Có TK 334: Tổng số tiền lương , phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp.
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định( phần tính vào chi phí – 19%):
Nợ TK 622
Có TK 338( 3382,3383,3384)
Tiền lương trích trước vào chi phí ( với những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ) và các khoản tiền lương trích trước khác( ngừng sản xuất theo kế hoạch):
Nợ TK 622 ( chi tiết theo đối tượng )
Có TK 335: Tiền lương trích trước.
- Cuối kỳ kết chuyêbr chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá thành theo từng đối tượng :
Nợ TK 154( chi tiết theo đối tượng 0
Có TK 622 ( chi tiết theo đối tượng )
- Phương pháp kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp cho các khoản chi phí về tiền công nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ quản lý ở các phân xưởng, khấu hao TSCĐ thuộc các phân xưởng … Các chi phí này thường được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan theo chi phí nhân công trực tiếp, theo chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp hoặc cũng có thể phân bổ theo cả chi phí nhân công trực tiếp và chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp hoặc cũng có thể phân bổ theo định mức chi phí sản xuất chung. Việc tập hợp, kết chuyển và phân bổ chi phí sản xuất chung được thực hiện trên TK 627- Chi phí sản xuất chung và được hạch toán cụ thể như sau:
- Tính ra tiền lương phải trả cho nhân viên phân xưởng :
- Nợ TK 627 ( 6271- chi tiết phân xưởng, bộ phận sản xuất )
- Có TK 334
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định( phần tính vào chi phí )
- Nợ TK 627( 6271- chi tiết phân xưởng, bộ phận sản xuất )
- Có TK 338( 3382, 3383, 3384)
- Chi phí vật liệu dùng cho từng phân xưởng:
- Nợ TK 627( 6273 – chi tiết theo từng phân xưởng)
- Có TK 152: chi tiết tiểu khoản
- Trích khấu hao TSCĐ của phân xưởng :
- Nợ TK 627( 6274– chi tiết theo từng phân xưởng)
- Có TK 214: chi tiết tiểu khoản
- Chi phí dịch vụ mua ngoài:
- Nợ TK 627(6277 – chi tiết theo từng phân xưởng)
- Nợ TK 133(1331): Thuế VAT được khấu trừ
- Có TK 111, 112, 331…: Giá trị mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền( tiếp tân, hội nghị…)
- Nợ TK 627( 6278 – chi tiết theo từng phân xưởng)
- Có TK 111, 112
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung:
- Nợ các TK liên quan( 111, 112, 152, 138…)
- Có TK 627 (chi tiết theo từng phân xưởng)
- Cuối kỳ kết chuyển và phân bổ chi phí sản xuất chung và TK 154:
- Nợ TK 154( chi tiết theo từng phân xưởng)
- Có TK 627– chi tiết theo từng tiểu khoản)
- Kế toán chi phí trả trước và chi phí phải trả.
- Kế toán chi phí trả trước
Chi phí trả trước( hay chi phí chờ phân bổ ) là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa được tính hết vào chi phí SXKD cảu ký này mà ddược tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán sau đó. Đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kỳ hạch toán.
Trong doanh nghiệp chi phí trả trước có thể gồm các khoản:
- Giá trị công cụ, dụng cụ nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần( từ 2 lần trở lên )
- Giá trị sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.
- Tiền thuê TSCĐ, phương tiện kinh doanh … trả trước.
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê.
- Dịch vụ mua ngoài trả trước( điện, điện thoại, vệ sinh…)
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển( với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài).
- Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông, bến bãi…
Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh sáng chế…( giá trị chưa tính vào TSCĐ vô hình ).
- Lãi thuê mua TSCĐ( thuê tài chính )
Để tập hợp và phân bổ chi phí trả trước, kế toán sử dụng TK 142 – “ Chi phí trả trước”.
Tài khoản 142 được chi tiết làm 2 tiểu khoản;
- TK 1421- Chi phí trả trước.
- TK 1422- Chi phí chờ kết chuyển.
Phương pháp kế toán chi phí trả trước:
- Khi phát sinh các khoản chi phí trả trước, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể ghi:
Nợ TK 1421- chi phí trả trước thực tế phát sinh.
Nợ TK 133(1331): Thuế VAT được khấu trừ.
Có TK111,112: Trả trước tiền thuê d/cụ, nhà xưởng,dịch vụ mua ngoài…
Có TK 153: G/trị xuất dùng CCDC, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê
Có TK 342; Số lãi thuê TSCĐ phải trả.
Có TK 331: Các khoản phải trả trước khác.
- Hàng tháng căn cứ vào kế hoạch phân bổ chi phí trả trước, tiến hành phân bổ chi phí trả trước vào chi phí SXKD cho các đối tượng chịu chi phí :
Nợ các TK liên quan( 241, 627, 641, 642)
Có TK 1421: Phân bổ chi phí trả trước .
- Đối với những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí, toàn bộ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp chỉ ra trong ký sau khi được tập hợp sẽ được kết chuyển vào bên nợ TK 142(1422):
Nợ TK 142(1422): Chi tiết từng loại.
Có TK 641, 642.
+ Tuỳ thuộc vào doanh thu được ghi nhận trong kỳ( lớn hay nhỏ) số chi phí này sẽ được kết chuyển dần( hoặc) một lần vào tài khoản xác định kết quả:
Nợ TK 911: xác định kết quả.
Có TK 142: chi tiết từng loại.
- Kế toán chi phí phải trả
Chi phí phải trả( chi phí trích trước) là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán. Đây là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị được tính trước vào chi phí kinh doanh cho các đối tượng nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm, chi phí bán hàng, chi phí quản lý khỏi đột biến tăng khi các khoản chi phí này phát sinh.
Thuộc các khoản chi phí phải trả thường bao gồm:
- Tiền lương phép của công nhân sản xuất ( với các DN mang tính chất thời vụ)
- Chi phí sửa chữa TSCĐ trong kế hoạch.
- Thiệt hại về ngừng sản xuất trong kế hoạch.
- Chi phí bảo hành sản phẩm trong kế hoạch.
- Lãi tiền vay chưa đến kỳ hạn trả.
- Tiền thuê TSCĐ, mặt bằng kinh doanh , … chưa trả.
- Các dịch vụ mua ngoài sẽ cung cấp.
Những khoản chi phí phải trả được theo dõi và tập hợp vào TK 335 –“ Chi phí phải trả”.
Phương pháp kế toán chi phí phải trả:
- Tính trước theo kế hoạch chi phí phải trả vào chi phí SXKD:
- Nợ TK liên quan ( 622, 627, 641, 642, 241 )
- Có TK 335
- Khi các chi phí phải trả thực tế phát sinh :
- Nợ TK 335: Chi phí phải trả thực tế phát sinh
- Nợ TK 133(1331) : Thuế VAT được khấu trừ( các khoản mua ngoài)
- Có TK 241( 2413) : Chi phí sửa chữa TSCĐ theo kế hoạch.
- Có TK 334: tiền lương phép công nhân sản xuất thực tế phải trả.
- Có TK 331: Các khoản phải trả với bên ngoài
- Có các TK khác ( 111, 112, 152, 153…): Các chi phí khác.
- Trường hợp chi phí thực tế phát sinh lớn hơn tổng chi phí phải trả đã ghi nhận thì số chênh lệch được ghi bổ sung tăng chi phí kinh doanh:
- Nợ TK liên quan (622, 627, 642)
- Có TK 335
- Trường hợp chi phí phải trả tính trước vào chi phí kinh doanh lớn hơn chi phí thực tế phát sinh, số chênh lệch được ghi giảm chi phí kinh doanh:
- Nợ TK 335
- Có các TK liên quan ( 622, 627, 641, 642)
Sơ đồ 1:
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên
- Xuất vâTK liệu dùng trực tiếp chế tạo sản phẩm, quản lý phân xưởng .
- Tiền lương, phụ cấp và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất, nhân viên phân xưởng.
- Chi phí khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng.
- Các chi phí sản xuất chung khác.
- Kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm.
(7a) Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành nhập kho.
(7b) Giá thành thực tế sản phẩm gửi bán.
(7c) Giá thành thực tế sản phẩm tiêu thụ thẳng.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh theo phương pháp kiểm kê định kỳ thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhỏ có quy mô nhỏ, chỉ tiến hành một loại hoạt động.
- Sự khác biệt giữa kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ.
Sự khác biệt được thể hiện ở những điểm sau:
- Tài khoản dùng để tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ là TK 631 – “ Giá thành sản xuất”, còn TK 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” chỉ được dùng để phản ánh già trịn sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang.
- Phương pháp kiểm kê địng kỳ sử dụng TK 611 – “ Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp” để phản ánh các chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm. Các chi phí được phản ánh trên TK 611 không ghi theo từng chứng từ xuất dùng nguyên, vật liệu mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định giá trị nguyên, vật liệu tồn kho được tính như sau:
Giá thực tế Giá thực tế Giá thực tế Giá thực tế
nguyên, vật liệu = NVL tồn + NVL nhập - NVL tồn
xuất dùng trong kỳ đầu kỳ trong kỳ cuồi kỳ
- Đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ là khi xuất vật liệu, dụng cụ cho các mục đích thì kế toán không phản ánh theo từng chứng từ mà cuối kỳ mới xác định giá trị của chúng trên cơ sở kết quả kiểm kê hàng tồn kho nên chi phí vật liệu xuất dùng cho mục đích sản xuất, quản lý hay cho tiêu thụ sản phẩm. Đây là nhược điểm lớn của phương pháp này về tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên, vật liệu.
- Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
- Tài khoản sử dụng :
TK 631 – “ Giá thành sản xuất”
TK 631 được sử dụng để tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Tài khoản này được hạch toán chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí ( phân xưởng, bộ phận sản xuất …) và theo loại, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm … của cả bộ phận sản xuất kinh doanh chính, sản xuất kinh doanh phụ, chi phí thuê ngoài gia công chế biến.
TK 631 cuối kỳ không có số dư vì gía trị sản phẩm dở dang cuối kỳ kết chuyển ngay vào tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
Phương pháp hạch toán cụ thể như sau:
- Đầu kỳ kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang:Nợ TK 631
- Có TK 154
- Cuối kỳ kết chuyển các chi phí sản xuất phát sinh trong các kỳ theo từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ…
- Kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp :
Nợ TK 631
Có TK 621
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp :
Nợ TK 631
Có TK 622
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung :
Nợ TK 154
Có TK 627
- Cuối kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang, ghi:
Nợ TK 154
- Có TK 631
- Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành:
- Nợ TK 632
Có TK 631
- Kết chuyển giá trị sản phẩm, dịch vụ dở dang đầu kỳ.
- Giá trị nguyên, vật liệu xuất dùng cho sản phẩm quản lý phân xưởng.
- Tiền lương, phụ cấp và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân xưởng
- Các chi phí sản xuất chung kế hoạchác.
- Kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Tổng giá thành sản xuất cảu sản phẩm
Sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp sản xuất là những sản phẩm còn đang nằm trong quá trình sản xuất, chưa kết thúc giai đoạn chế biến nghĩa là còn đang nằm trên dây chuyền, quy trình công nghệ sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch, chưa hoàn thành bàn giao tính vào khối lượng bàn giao thanh toán. Để tính được giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải cần thiếtphải tiến hànhkiểm kê và đánh giá chính xác được sản phẩm cuối kỳ tức là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu.
Sản phẩm dở dang được đánh giá một cách hợp lý là một trong những yếu tố quyết định đến tính trung thực hợp lý của giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành. Tuy nhiên việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ là một công việc rất phức tạp vì vậy không thể đòi hỏi một sự chính xác tuyệt đối mà kế toán phải phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể về tổ chức sản xuất, về quy trình công nghệ, tính chất cấu thành của chi phí và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để vận dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang thích hợp.
- Với bán thành phẩm: Có thể tính theo chi phí định mức hoặc kế hoạch.
- Với sản phẩm chế tạo sản phẩm dở dang : Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp .
Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí nguyên, vật liệu chính trực tiếp còn chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung tính cho cả thành phần trong kỳ chịu.
Phương pháp này áp dụng thích hợp cho những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, dịch vụ có quy trình sản xuất bỏ nguyên vật liệu chính trực tiếp một lần vào đầu quy trình sản xuất, dịch vụ đó, khối lượng sản phẩm dở dang giữa các kỳ tương đối ổn định.
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp sản lượng hoàn thích hợpành tương đương:
Theo phương pháp này, sản lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ theo mức độ hoàn thích hợpành. Do vậy, kế toán phải căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang và mức độ chế biến chúng để tính ra khối lượng sản phẩm dở dang tương đương với sản phẩm hoàn thành.
Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì vẫn tính theo công thức như ở phương pháp 1, còn đối với chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung thì được tính như sau:
Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp sản lượn sản phẩm hoàn thành tương đương có ưu điểm là tính toán được đầy đủ các khoản mục chi phí, kết quả tính toán có mức chính xác cao, hợp lý hơn nhưng khối lượng tính toán lớn và tốn nhiều thời gian. Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp sản xuất chế biến sản phẩm, dịch vụ có quy trình sản xuất bỏ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung một cách đều đặn vào suốt quy trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ đó và khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ lớn, thường xuyên biến động.
Việc xác định mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang cuối kỳ đòi hỏi tốn nhiều thơì gian cho nên đối với những doanh nghiệp sản xuất có khối lượng sản phẩm dở dang tương đối đồng đều trong toàn bộ dây chuyền công nghệ thì có thể quy địng mức độ hoàn thành chung của sản phẩm dở dang cuối kỳ là 50% để đơn giản cho việc tính toán mà vẵn đảm bảo độ chính xác.
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí định mức:
Căn cứ vào định mức tiêu hao( hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước công việc trong quá trính chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang.
Trong đó:
qi : Là số lượng sản phẩm đã thực hiện được bước công việc thứ i
DMi : Chi phí định mức của bước công việc i
n : Số bước công việc đã thực hiện trong sản phẩm dở dang cuối kỳ