24/05/2018, 18:38

Các nhân tố ảnh hưởng và nội dung biện pháp tạo vốn của ngân hàng thương mại

Mọi hoạt động kinh doanh diễn ra đều chịu sự tác động nhất định của môi trường xung quanh. Công tác huy động vốn – một nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong cơ chế thị trường, các ngân ...

Mọi hoạt động kinh doanh diễn ra đều chịu sự tác động nhất định của môi trường xung quanh. Công tác huy động vốn – một nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại buộc phải cạch tranh để có thể thu hút được nguồn vốn lớn với chi phí thấp để tồn tại và phát triển. Do đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, tìm giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn là rất cần thiết. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn có nhiều và rất đa dạng, nhưng tập trung lại có hai nhóm nhân tố là: Khách quan và chủ quan.

Nhóm nhân tố khách quan (PEST):

Bao gồm: Chính trị - pháp luật, kinh tế, môi trường xã hội và công nghệ

- Hành lang pháp lý: Có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại như luật các tổ chức tín dụng, luật ngân hàng nhà nước… Những luật này quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng thương mại so với vốn tự có, quy định việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và quy định cả mức cho vay của ngân hàng thương mại đối với khách hàng…

Sự can thiệp của ngân hàng nhà nước khi thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng tới việc huy động vốn, vì khi thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ mang lại thuận lợi cho ngân hàng thương mại trong việc huy động vốn vay từ ngân hàng nhà nước. Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ. Ngược lại, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn trong việc huy động vốn vay từ ngân hàng nhà nước.

Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp hý hay không hợp lý cũng ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn của Ngân hàng. Để khuyến khích sản xuất, đầu tư, Nhà nước có chính sách bảo hộ cho hàng hoá sản xuất, chính sách trợ giá… tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển và có lãi. Các doanh nghiệp và người lao động có tích luỹ là nền tảng để Ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn.

- Sự tăng trưởng của nền kinh tế: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập khá, tích luỹ được nhiều nên các khoản tiền ký thác thường tăng nhanh để đáp ứng các giao dịch kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế phát triển sẽ có tác động ngược lại, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, giao dịch kinh tế tăng hơn hình thành một bộ phận tích luỹ, tạo môi trường tiềm tàng để ngân hàng thương mại thu hút vốn.

Chu kỳ kinh tế (phục hồi – Tăng trưởng – Bão hòa – Suy thoái).

Ngân hàng thương mại phải tìm biện pháp huy động sao cho có hiệu quả, vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, vừa đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, môi trường đầu tư của Ngân hàng sẽ bị thu hẹp, lợi nhuận của Ngân hàng giảm, quá trình huy động vốn sẽ gặp nhiều khó khăn. Hơn thế nữa, lạm phát làm cho đồng tiền mất giá, người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng, mà dùng tiền để mua hàng hoá có giá trị để cất trữ cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng.

Bên cạnh đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa quốc gia cũng ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng. Nếu mở rộng tiền tệ thì sẽ huy động vốn dễ, nếu thắt chặt tiền tệ sẽ huy động vốn khó. Khi chính sách tài khóa thu hẹp cũng như tăng thuế, giảm chi tiêu chính phủ cũng dẫn tới tăng thất nghiệp nên khó huy động vốn. Mặt khác lãi suất giảm sẽ không hấp dẫn được nguồn tiết kiệm vì người có tiền sẽ chỉ quan tâm tới lãi suất dương, vậy nên không ai muốn gửi tiền tiết kiệm.

Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng. Khi đồng việt nam mất giá dân chúng không muốn giữ đồng nội tệ mà chuyển sang cất giữ đồng ngoại tệ và vàng, vì vậy huy động vốn nội tệ trong dâc cư sẽ giảm.

- Môi trường – xã hội: Đời sống, thu nhập của người dân là yếu tố trực tiếp quyết định đến lượng tiền gửi vào Ngân hàng. Thật vậy, thu nhập của ngưòi lao động càng cao thì nguồn vốn động được vào Ngân hàng càng lớn. Bởi vì, người dân có thu nhập cao ngoài việc thoả mãn được yêu cầu của đời sống, họ còn giành một phần để tích luỹ. Số tiền tích luỹ này sẽ dùng để thoả mãn nhu cầu cao hơn trong tương lai.

Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng. ở các nước phát triển, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng rất phát triển. Các nước chậm phát triển, tâm lý ưa dùng tiền mặt và tích luỹ tiền không gửi vào Ngân hàng là khá phổ biến. Tâm lý và thói quen tiêu dùng còn rất khác nhau giữa các dân tộc và các vùng, miền ở nước ta. Vì vậy, phát triển nhanh các hình thức không dùng tiền mặt có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động vốn của Ngân hàng.

- Công nghệ: Các ngân hàng ứng dụng công nghệ cao thì càng tăng được khả năng huy động vốn vì càng tăng khả năng tiếp cận với khách hàng, giảm được thời gian vv…Hiện nay các ngân hàng thường mại ở nước ta đã đưa máy rút tiền tự động ATM vào thị trường để khách hàng sử dụng, khách hàng có thể rút tiền ở mọi lúc, mọi nơi.

Nhân tố chủ quan

- Chính sách lãi suất:

Là một nhân tố quan trọng, có tác động mạnh đến việc huy động vốn của Ngân hàng thương mại; đặc biệt là đối với các khoản vốn mà người gửi hoặc người dân đầu tư Ngân hàng với mục đích hưởng lãi. Các Ngân hàng cạnh tranh không chỉ về lãi suất huy động với các Ngân hàng khác mà cả với thị trường tiền tệ. Do đó, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo những chiều hướng khác nhau. Đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người gửi tiền chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác.

Vì vậy, xác định một lãi suất hợp lý, có tính cạch tranh là một vấn đề vô cùng quan trọng, phải được nghiên cứu, cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện. Tuy nhiên, Ngân hàng phải tính toán sao cho lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo được chi phí đầu vào thấp nhất và kinh doanh có lãi.

- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:

Cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến công tác huy động vốn. Một Ngân hàng có hệ thống chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ đạt được các mục tiêu đề ra về chi phí cũng như về lợi nhuận. Đó là chiến lược về sản phẩm dịch vụ. Chiến lược giá, lãi suất, chiến lược phân phối, chiếm lược phát triển nhân sự, chiến lược khuyếch chương giao tiếp… có tác động mạnh đến việc huy động vốn. Hệ thống chiến lược kinh doanh của Ngân hàng là thực tiễn sinh động để đánh giá năng lực và trình độ quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tạo được niềm tin đối với khách hàng. Do đó, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.

- Uy tín và vị thế của Ngân hàng:

Thông thường, khách hàng lựa chọn những Ngân hàng có uy tín và vị thế trên thị trường để giao dịch, vay mượn, thanh toán và bảo lãnh… Uy tín và vị thế của Ngân hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn của khách hàng, thể hiện cụ thể ở năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quá trình lịch sử, chất lượng marketing… Vì vậy, các Ngân hàng thông qua hoạt động của mình, bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ hiện đại và phong cách làm việc văn minh, lịch sự … thoả mãn tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng, là thiết thực nâng cao uy tín và vị thế trên thị trường.

- Các hình thức huy động và dịch vụ kèm theo:

Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Với nhiều loại sản phẩm khác nhau, khách hàng có thể lựa chọn một sản phẩm phù hợp với điều kiện khả năng của mình. Có như vậy, ngân hàng thương mại mới thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với mình. Không những thế, Ngân hàng còn phải đưa ra được các dịch vụ kèm theo tốt và đa dạng để tăng lợi thế cạnh tranh. Với nhiều tiện ích kèm theo, sẽ giúp Ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế và dân cư trong xã hội. Qua đó, tạo thêm nhều mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn giữa các Ngân hàng và khách hàng.

- Mạng lưới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng:

Tổ chức mạng lưới hoạt động rộng, hợp lý trên địa bàn dân cư giúp Ngân hàng có nhiều cơ hội để thu hút vốn hơn, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí để thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, việc mở chi nhánh cần phù hợp với điều kiện năng lực của Ngân hàng. Yếu tố địa điểm cũng tác động đến tâm lý của khách hàng, một Ngân hàng nằm ở vị trí thuận lợi như khu vực trung tâm, khu đông dân cư, đi lại thuân tiện… giúp khách hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn.

- Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ nhân viên:

Có thể nói, tất cả mọi khách hàng đều muốn giao dịch với Ngân hàng có địa điểm đẹp, cơ sở vật chất hiện đại, cán bộ nhân viên phục vụ tận tình và lịch thiệp. Một Ngân hàng được trang bị công nghệ hiện đại nhất định sẽ rút ngắn được rất nhiều thời gian sử lý công việc, đảm bảo được độ chính xác cao trong các giao dịch kinh tế. Hơn nữa, cơ sở vật chất, trình độ công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao là điều kiện cần thiết để họ giải quyết công việc nhanh chóng, khoa học… Từ đó, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ Ngân hàng cung ứng ra thị trường, là điều khách hàng rất quan tâm.

Biện pháp kinh tế

Khi sử dụng các biện pháp kinh tế để huy động vốn tức là việc ngân hàng sử dụng đòn bẩy kinh tế để thu hút khách hàng, được thể hiện bằng lãi suất hay phí dịch vụ. áp dụng lãi suất cạnh tranh là việc ngân hàng nâng cao lãi suất huy động hạ phí dịch vụ so với bình quân thị trường (việc này không có lợi cho ngân hàng vì làm tăng chi phí nhưng ngân hàng vẵn phải sử dụng trong thị trường nhất định ). Phải sử dụng việc thâm nhập thị trường hoặc tìm được đầu ra có thu nhập cao.

* Chính sách lãi suất huy động phù hợp:

Muốn xác định chính sách lãi suất huy động phù hợp phải dựa trên những nguyên tắc chung của ngân hàng. Với ngân hàng thì qua nghiên cứu nghị định 166/1999, doanh thu chính là thu nhập. Lãi suất của ngân hàng cần được xác định trên cơ sở xem xét các yếu tố thu nhập và chi phí nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy lãi suất được xác định ở mức tại đó thu nhập biên bằng chi phí biên.

* Chính sách lãi suất cụ thể:

- Chính sách lãi suất phù hợp với từng nguồn tiền huy động theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao

- Chính sách lãi suất thâm nhập thị trường ( lãi suất cạnh tranh)

Với mức lãi suất này ngân hàng trả mức lãi suất tiền gửi cao hơn huặc thu phí dịch vụ thấp hơn so với các ngân hàng khác

Chính sách lãi suất này thường được các ngân hàng đang ở giai đoạn thâm nhập thị trường áp dụng. Những ngân hàng này thuờng là những ngân hàng còn non trẻ, mới thành lập, nguồn vốn còn thiếu. Vì thế nên việc họ áp dụng chính sách lãi suất này nhằm tăng nhu cầu vốn lưu động để có thể đứng trên thị trường ngân hàng cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những ngân hàng này thường đưa ra mức lãi suất cao hơn đáng kể so với tứ đại ngân hàng. Nhận thấy rất rõ khi ta nhìn vào mục lãi suất tiết kiệm trong tờ Thời báo ngân hàng. Những ngân hàng cổ phần: NHTMCP Quốc tế, NHTMCP Đông á, mức lãi suất của họ luôn cao hơn các NHTMNN.

Khi các ngân hàng muốn tăng nhu cầu vốn, mở rộng thị trường, đặc biệt là cần tiền cho một dự án thì họ cũng áp dụng chính sách này.Ví dụ như khi NHNT muốn huy động ngoại tệ cho một số dự án của họ ở giai đoạn 2001 – 2010, họ đã huy động trái phiếu thời hạn 5 năm, với lãi suất năm đầu tiên là 4,2%, trong khi lãi suất năm tại thời điểm đó ở NHNT là 2,25%/năm.

Tuy nhiên chúng ta không thể thường xuyên áp dụng chính sách này vì sẽ làm tăng chi phí, giảm thu nhập. Các ngân hàng cũng chỉ nên áp dụng chính sách này trong từng thời kỳ cụ thể, đặc biệt là các NHTMCP.Trên thực tế ta thấy rất rõ, NHTMCP luốn có lãi suất cao hơn các NHTM của nhà nước như ICB, VCB, BIDV. Nhưng khách hàng thường không thay đổi ngay lập tức ngân hàng. Vì chi phí và sự rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ. Hơn nữa là khách hàng đã quen với các hoạt động giao dịch của ngân hàng mình đã chọn, cách chăm sóc khách hàng, các dịch vụ ưu đãi vv…Theo nghiên cứu của một số chuyên gia Mỹ: Các công ty lẫn cá nhân khi xem xét gửi tiền thì quan tâm đến rất nhiều yếu tố chứ không chỉ đơn thuần là lãi suất. Các cá nhân thì đặc biệt quan tâm đến quan hệ lâu dài và địa điểm thuận lợi. Trái lại các doanh nghiệp lại ưu tiên các ngân hàng có khả năng cho vay tốt và tình hình tài chính vững mạnh.

- Chính sách định giá mục tiêu trọng điểm

Ngân hàng mong muốn thu hút các cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền thông qua các điều khoản tiền gửi hấp dẫn với hy vọng nhận được các khoản tiền gửi quy mô lớn, nhằm tăng cường khả năng huy động vốn.

Ngân hàng áp dụng những chương trình quảng cáo công phu cũng như lãi suất hấp dẫn để thu hút những khách hàng có địa vị trong xã hội. Đối với khách hàng có số dư thấp, ít ổn định ngân hàng định giá cao hơn để hạn chế. Chiến lược này thường kết hợp với chương trình nhà ngân hàng cá nhân (personal banhker), theo đó mỗi khách hàng lớn được một cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm đáp ứng tất cả các nhu cầu dịch vụ ngân hàng.

Việc áp dụng chính sách này giảm được chi phí nhờ có được nhiều tài khoản có số dư cao và ổn định. Nhưng cũng có những bất lợi là khó áp dụng được với những ngân hàng nằm tại những khu vực không phát triển thịnh vượng.

- Chính sách lãi suất trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng:

Ngân hàng quy định mức phí thấp hơn và mức thu nhập cao hơn cho khách hàng có quan hệ lâu dài với ngân hàng và ngân hàng định giá theo số lượng dịch vụ khách hàng sử dụng. Cơ sở của chính sách này là quan điểm cho rằng: khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ hơn sẽ trung thành hơn và trong dài hạn sẽ tạo ra thu nhập lớn hơn cho ngân hàng.

Biện pháp kỹ thuật:

* Về sản phẩm:

Ngân hàng phải đảm bảo các dịch vụ huy động đa dạng, hữu ích tiện lợi cho khách hàng. Sự đa dạng thể hiện từ các mức kỳ hạn, các dạng gửi tiền đến những tiêu chí khác. ở Việt nam, sự đa dạng thể hiện qua kỳ hạn chỉ chủ yếu tập trung ở tiền gửi ngắn hạn, còn đối với trung dài hạn thì chưa nhiều. Các dạng gửi tiền cũng còn nghèo nàn. Chỉ tập chung chủ yếu là gửi tiền kỳ hạn và không kỳ hạn. Những loại tiền gửi khác như tiết kiệm tích luỹ theo niên kim (một dạng gửi góp) chỉ mới bước đầu phát triển. Những loại tiết kiệm theo mục đích phát triển rất nhiều ở nước ngoài như : Tiết kiệm cho con đi học đại học, tiết kiệm cho các kỳ nghỉ du lich… Hầu như chưa xuất hiện ở việt nam. Việc sử dụng quá nhiều tiền mặt ở việt nam cũng hạn chế đưa ra nhiều dịch vụ huy động tiền gửi của ngân hàng. Những dịch vụ như thanh toán lương cho nhân viên của các công ty qua tài khoản của ngân hàng cũng phát triển rất mạnh. Nhưng ở việt nam(hầu như chỉ phát triển với chính cán bộ của các ngân hàng).

Một vấn đề nữa là tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng. Các ngân hàng nước ngoài triển khai vấn đề này theo hai hướng đưa ra các dịch vụ huy động đa năng (tài khoản ký thác vạn năng) và tiết kiệm điện tử (gửi một nơi rút tiền nhiều nơi). ở việt nam, tiết kiệm điện tử mới chỉ là bước đầu được triển khai ở một số NHTM lớn như ICB, VCB dịch vụ tiết kiệm đa năng hầu như chưa được định hướng. Việc tạo ra các sản phẩm đa năng được các ngân hàng nước ngoài triển khai rất hiệu quả: Ví dụ với một tấm thẻ mang tên ACCESS của ANZ Bank các khách hàng có thể sử dụng một loạt dịch vụ: Tiết kiệm, đầu tư tự động, chuyển các nguồn thu nhập vào tài khoản, chỉ trả các hoá đơn và vay tiền.

* Phân phối:

Đối với các khách hàng cá nhân, địa điểm thuận tiện là một trong những vấn đề quan trọng. Ngày nay, để tiếp cận một ngân hàng khách hàng không chỉ có cách duy nhất là tới các chi nhánh, họ có thể tiếp cận với ngân hàng một cách gián tiếp thông qua các hệ thống homebanking, EFTPOS, máy rút tiền tự động. Nếu một ngân hàng có đầy đủ các hệ thống trên sẽ thu hút đuợc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng của mình. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận sự tồn tại của các chi nhánh, các phòng giao dịch. Những phòng giao dịch khang trang với hệ thống máy móc hiện đại hoặc nằm trong những cao ốc luôn tạo những cam giác an toàn với khách hàng. Ngày nay, một số ngân hàng việt nam đã chú ý đến vấn đề này.

Biện pháp tâm lý:

* Con người:

Khách hàng luôn có rất nhiều ấn tượng với phong cách phục vụ của các nhân viên. Các ngân hàng việt nam đang quan tâm đến vấn đề này thông qua việc đầu tư xây dựng những quyền cẩm nang phục vụ khách hàng. Phong cách ở đây được hiểu là cả thái độ phục vụ lẫn trình độ chuyên môn của nhân viên. Trong quyển cẩm nang đó nhân viên được dậy cách tiếp cận sao cho hiệu quả với khách hàng mới, với khách hàng đã từng nhiều lần đến gửi tiền. Vấn đề trình độ chuyên môn cũng như khả năng xử lý thành thạo quy trình nghiệp vụ cũng được đề cập tới. Các nhân viên sẽ được hướng dẫn cách xử lý các tình huống hàng ngày

Trong khoảng thời gian 1999, khi lãi suất ngoại tệ tăng liên tục do FED tăng lãi suất nhân viên ngân hàng có hiểu biết thì có thể khuyên khách hàng gửi ngắn hạn để có thể nhận được những mức lãi suất cao hơn trong những kỳ tiết kiệm tiếp theo. Nếu trong giai đoạn 2001, khi FED liên tục hạ lãi suất mà vẫn chưa vực được nền kinh tế mỹ, nhân viên ngân hàng có thể khuyên khách hàng có thể gửi tiền dài hạn để tránh lãi suất tiếp tục bị hạ. Nhận được những lời khuyên đúng đắn sẽ làm cho khách hàng có những ấn tượng không bao giờ quên và đó chính là việc làm hữu ích tạo ra sự trung thành của khách hàng đối với ngân hàng.

* Khuyếch trương:

Hoạt động khuyếch trương của ngân hàng bao gồm từ các trương trình quảng cáo công phu, các đợt gửi tiền có thưởng ( ABC, NHNo&PTNT…) Và những quà tặng dành cho những khách hàng lớn. Tại các ngân hàng nước ngoài dựa trên các application form của khách hàng, ngân hàng đã gửi những món quà vào đúng ngày sinh nhật của khách hàng.

Mở rộng mạng lưới chi nhánh, hiện đại hóa công nghệ đặc biệt đa dạng hóa kênh phân phối để tăng diện tiếp xúc với khách hàng. Đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ tiết kiệm đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán. Cải tiến quy trình phải đảm bảo nhanh gọn, chính xác, phù hợp với khả năng của nhân viên đồng thời đảm bảo tiện lợi cho khách hàng.

Đối với phần lớn khách hàng gửi tiền thì thời gian luôn rất quan trọng. Một quy trình nhanh chóng sẽ làm cho khách hàng có cảm giác thoải mái mỗi khi tiếp xúc với ngân hàng. Hiện nay, người ta nhắc nhiều đến quy trình tiết kiệm một cửa. Điều này thực ra rất phổ biến đối với các ngân hàng nước ngoài. Quy trình một cửa đơn giản là việc khách hàng phải tiếp xúc duy nhất với một nhân viên ngân hàng trong quá trình giao dịch. Cụ thể, trong hoạt động tiết kiệm, thay vì hai cửa: Một kế toán, một thủ quỹ thì người ta gộp làm một nghĩa là các teller kiêm cả thủ quỷ lẫn kế toán tuy nhiên, thực hiện quy trình này cần chú đến khả năng của nhân viên, nếu không quy trình một cửa còn khiến cho giao dịch diễn ra lâu hơn vì người nhân viên phải làm một lúc hai nhiệm vụ. Quy trình một cửa hiện nay đang được thực hiện rộng rãi tại các điểm giao dịch của các ngân hàng thương mại

0