25/05/2018, 07:47

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế

Tổng tiết kiệm trong nước mà mỗi quốc gia dù được hình thành từ các nguồn tiết kiệm của chính phủ, dân cư, hay tiết kiệm của các doanh nghiệp thì chúng đều có chung nguồn gố là bộ phận của GDP, do việc tăng trưởng nền kinh tế quyết định. Sự ...

Tổng tiết kiệm trong nước mà mỗi quốc gia dù được hình thành từ các nguồn tiết kiệm của chính phủ, dân cư, hay tiết kiệm của các doanh nghiệp thì chúng đều có chung nguồn gố là bộ phận của GDP, do việc tăng trưởng nền kinh tế quyết định. Sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định tạo ra mức thu nhập bình quân đầu người cao sẽ là tiền đề vững chắc cho việc mở rộng tiết kiệm trong mỗi quốc gia. Điều này có nghĩa là thu nhập đốn vai trò then chốt quyết định đến tiết kiệm. Một nền kinh tế thấp kém, tốc độ tăng trưởng chậm, thiếu ổn định và thu nhập bình quân đầu người thấp sẽ không có hoặc rất ít khả năng tiết kiệm. Tuy nhiên thu nhập không thể coi là yếu tố duy nhất tác động đến tiết kiệm. Theo cách hiểu thông thường tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập sau khi đã đảm bảo cho tiêu dùng thiết yếu. Điều này cho thấy việc phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và tiết kiệm không thể bỏ qua tác động của tiêu dùng. Nếu thu nhập tăng tiêu dùng giảm dẫn đến tiết kiệm tăng như vậy khả năng đầu tư giảm và ngược lại.

Tiết kiện và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ

  • Tiết kiệm là tiền đề của đầu tư. Đầu tư phải cần đến vốn đầu tư. Vốn này do nguồn tiết kiệm hình thành, tiết kiệm quá ít không đảm bảo đủ vốn cho nhu cầu đầu tư, sẽ hạn chế đến quá trình mở rộng hoạt động đầu tư và rất khó hoặc không thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mong muốn. Tiết kiệm quá nhiều tạo ra lực cản với quá trình mở rộng đầu tư. Cần phải có sự phù hợp giữa tiết kiệm, đầu tư tăng trưởng của từng nướcvà từng giai đoạn phát triển của đất nước.
  • Đầu tư sẽ tạo ra cơ sở để mở rộng nguồn tiết kiệm vì bất kỳ người đầu tư nào khi cảm thấy cơ hội đầu tư có lợi hay có hiệu quả về kinh tế xã hội thì người ta sẵn sàng đầu tư không phân biệt đầu tư đó thuộc loại hình sở hữu nào và ddầu tư theo hình thức trực tiếp hay đầu tư gián tiếp. Hiệu quả của đầu tư đạt được do kết quả đầu tư mang lại sẽ là cơ hội để huy động được các nguồn tiết kiệm cho đầu tư kế tiếp với quy mô lớn hơn.
  • Để tiết kiệm biến thành đầu tư có nhiều nhân tố tác động suy cho cùng có hai nhân tố cơ bản là an toàn và lợi ích. Đồng thời đầu tư là cơ sở để tạo ra tiết kiệm với quy mô lớn hơn cũng bị hai nhân tố cơ bản nói trên chi phối và quyết định.
  • Hoạt động tiết kiệm và đầu tư trong những trường hợp cụ thểt có thể độc lập với nhau vì tiết kiệm bị động phụ thuộc vào yếu tố khác nữa.

Quá trình đi tìm các biện pháp rút ngắn khoảng cách đẻ người tiết kiệm và người đầu tư gặp nhau trực tiếp hoặc gián tiếp, tiến hành mua bán quyền sử dụng vốn, sau khi thoả thuận với nhau về giá cả của vốn và các điều kiện ràng buộc khác dẫn đến hình thành và phát triển thị trường tài chính là một yếu tố khách quan của nền kinh tế thị trường. Nó đóng vai trò quan trọng thúc đẩy giao lưu vốn để phát triển kinh tế xã hội. Vai trò của thị trường tài chính :

  • Đóng vai trò to lớn trong việc thu hút, hoạt động các nguồn tài chính nhàn rỗi để tài trợ cho nhu cầu vốn đang bị thiếu hụt của những người chi tiêu hay đầu tư góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
  • Đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính tạo điều kiện cho việc giao lưu vốn từ khu vực kinh doanh hay chi tiêu kém hiệu quả sang lĩnh vực có hiệu quả hơn.
  • Góp phần tạo điều kiện giao lưu vốn trong nước với nước ngoài đồng thời có thể thu hút được vốn đầu tư từ nước ngoài vào.
0