31/03/2021, 15:28

Bài văn phân tích đoạn trích "Thúy Kiều báo ân báo oán" của Nguyễn Du số 9 - 10 Bài văn phân tích đoạn trích "Thúy Kiều báo ân báo oán" của Nguyễn Du hay nhất

Nhắc đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, ta nhớ ngay đó là đỉnh cao văn học nghệ thuật có một không hai. Mang trong mình nhiều giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc, tác phẩm đã để lại những ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Mỗi trích đoạn là một cảnh đời sống động, chân ...

Nhắc đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, ta nhớ ngay đó là đỉnh cao văn học nghệ thuật có một không hai. Mang trong mình nhiều giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc, tác phẩm đã để lại những ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Mỗi trích đoạn là một cảnh đời sống động, chân thực. Trong đó, cảnh “Thúy Kiều báo ân báo oán” là ước mơ về một xã hội công bằng, ân trả báo đền.


Trích đoạn vẫn thuộc phần hai “Gia biến và lưu lạc”, song có thể nhận định rằng quãng thời gian nàng được sống bên Từ Hải, được dựa vào uy thế của chàng để thực thi công đạo thì đây là quãng đời sáng chói nhất, huy hoàng nhất trong cả hành trình lưu lạc trong bể trầm luân của nàng.


Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ưóc mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán gồm 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7 tên khác bị báo oán:


Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,

Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.

Tú Bà với Mã Giám Sinh,

Các tên tội ấy đáng tình còn sao?


Ở đây, chúng ta chỉ chú ý đến hai đối tượng đặc biệt : Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư. Tâm lí và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.

Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép phải tiếp khách làng chơi. Và Kiều đã gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương”, là con rể của quan thượng thư, một con người phong tình “quen thói bốc giời”.


Lúc đầu chỉ là chuyện tình “trăng gió”, nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành “đá vàng”. Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy nàng làm vợ lẽ: “Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai”. Mặc dù sau này có chuyện nàng bị vợ cả đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh đã xin với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm các “giữ chùa, chép kinh”, thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy “thấp cơ thua trí đàn bà” nhưng tình cảm của Thúc Sinh đối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn “nặng lòng”


Bây giờ kẻ ngược người xuôi,

Biết bao giờ lại nối lời nước non ?


Có thể chê trách Thúc Sinh bạc nhược, hèn nhát, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã yêu thương nàng thật lòng, cứu nàng thoát khỏi cảnh phải “làm vợ khắp người ta”. Ân tình ấy, nàng không bao giờ quên được.


Cảnh báo ân diễn ra trang trọng, Kiều đã dùng những từ ngữ rất trọng vọng để nói về mối quan hệ giữa nàng và chàng Thúc năm xưa: “nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân… “cùng với giọng điệu ân cần, thủ thỉ như đang ôn lại, nhắc lại những ân nghĩa mà nàng đã nhận được từ Thúc Sinh.


Cách nó chuyện ân cần như vậy biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc Sinh rất giàu ân nghĩa thủy chung:


Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non.

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?


Lễ vật nàng ban tặng cho chàng Thúc thật hậu hĩnh, nó xứng với tấm lòng biết ơn sâu nặng của nàng.


Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân.

Tạ lòng để xứng báo ân gọi là.


Chịu ơn Thúc Sinh, nhưng nàng cũng phải chịu nhục nhã, tủi hờn trước những đòn đánh ghen thâm hiểm của vợ chàng Thúc. Trước đây, nàng phải chịu phận tôi đòi, bị vợ cả hành hạ, thì giờ đây mũi tên quyền lực đã đổi chiều, Hoạn Thư trở thành kẻ phạm tội, còn nàng là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cành “gươm lớn giáo dài”:


Vợ chàng quỷ quái tinh ma,

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.


Có thể dễ dàng nhận thấy giọng điệu ở đây có sự thay đổi khá bất ngờ. Đang ân cần, tâm tình, ngọt ngào, ân nghĩa với những từ ngữ rất trang trọng, rất mực tôn kính, thì khi nói đến Hoạn Thư, thì cơn tủi hờn, nỗi ấm ức trong nàng dường như trỗi dậy khiến lời nói của nàng nghe như đay nghiến, chì chiết, tiềm ẩn một cơn oán hận ngút trời. Vừa thoắt trông thấy bóng Hoạn Thư, nàng đã đon đả chào hỏi bằng những lời “mát mẻ”


Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!


Không chỉ có lời chào như tiếng cười nhạo đầu tiên trước “tình địch” của mình, Thúy Kiều còn “tiếp đón” “người cũ” bằng những lằn roi sắc lạnh quất thẳng vào mặt đối thủ


Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!


Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ, tủi cực: Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều. Là “thủ phạm” đang bị kết án giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nắp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”. Người phụ nữ này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt?


Vốn khôn ngoan, sắc sảo, Hoạn Thư trấn tĩnh được ngay, và tìm cách gỡ tội. Một cái “khấu đầu” thể hiện thái độ tôn kính, khi chân tay đang bị trói. Trước hết ả biện bạch, bào chữa cho tội “ghen tuông”, coi đó là chuyện “thường tình ” của đàn bà. Nói như vậy, Hoạn Thư đã thay lời tất cả phụ nữ có chồng trong thiên hạ nói lên tâm trạng ấm ức, thiệt thòi của mình khi bị chồng phụ tình.


Chuyện chồng chung vợ chạ nào ai có thể chịu đựng nổi. Chính vì thế, có oán giận mà hành hạ nàng Kiều thì cũng là “lẽ thường”. Chưa dừng lại ở đó, Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình” xưa cũ: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa, chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua, không cho người truy đuổi. Cách nói rất khôn khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. “Nghĩ cho”là nhớ lại cho, suy xét lại cho:


Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửu dứt tình chẳng theo.


Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng tha thứ cho:


Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.


Lời lẽ của Hoạn Thư thật có tình, có lí. Nếu Kiều tính toán đến cùng thì hóa ra nàng là con người nhỏ nhen. Thêm nữa, nàng lại chịu ân của Thúc Sinh, nếu trừng trị Hoạn Thư thì có lẽ cũng không phải với chàng Thúc.Trước những lời thiết tha, đúng mực, khôn khéo ấy, Kiều khen rằng: “Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”, và lệnh truyền tha ngay cho tiểu thư họ Hoạn:


Đã lòng tri quá thì nên

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.,


Cách ứng xử của nàng Kiều khiến người đọc không khỏi bất ngờ, bởi lẽ trước đó khi nói về Hoạn Thư với Thúc sinh nàng đã dung những lời lẽ đầy hờn giận. Vậy mà, chỉ sau vào câu nói khôn ngoan của ả, nàng liền tha bổng ngay. Hành động này của Thúy Kiều thực chất xuất phát từ trái tim nhân hậu, từng trải qua bao ngang trái của cuộc đời. Bản thân nàng cũng tự nhận thức mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác, tha tội cho Hoạn Thư, cũng là tự tháo cởi những oán hận trong lòng để lòng thanh thản, nhẹ nhàng.


Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật khéo léo qua ngôn ngữ đối thoại thể hiện rõ tính cách điển hình của từng nhân vật. Thúc Sinh hiền lành mà nhút nhát, Hoạn Thư khôn ngoan, sắc sảo, Thú Kiều trọng tình nghĩa, cao thượng, vị tha. Không chỉ là chuyện ân oán của riêng nàng Kiều, đoạn trích đã vượt ra ngoài ý nghĩa ấy để vươn tới tầm cao giá trị nhân bản. Đó là ước mơ về một xã hội công bằng, người ở hiền sẽ gặp lành, kẻ ác sẽ chịu báo ứng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trịnh Ngọc Trinh

226 chủ đề

43560 bài viết

Cùng chủ đề
Có thể bạn quan tâm
0