24/05/2018, 17:57

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời trong hoạt động ngân hàng

Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm : Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu ( ROE), lệ thu nhập trên tổng tài sản tỷ (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên ...

Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm : Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu ( ROE), lệ thu nhập trên tổng tài sản tỷ (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệthu nhập ngoài lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên

ROE = Error!

ROA = Error!

NIM = Error!

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên = Error!

Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên = Error!

Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa không khác nhau đáng kể. ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Ngược lại, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng .

Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên nhân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lòi và theo đuổicác nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thuphí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng). Đối vói hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường là âm, chi phí ngoài lãi nhìn chung vượt quá thu từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ phí trong tổng các nguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây.

Một biện pháp đo lường hiệu quả chỉ tiêu thu nhập truyền thống khác mà các nhà quản lý sử dụng điều hành ngân hàng là chênh lệch lãi suất bìnhquân ( hay chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra), được tính như sau :

= Error! - Error!

Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả đối vối hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thồi nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường của ngân hàng. Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi suất bình quân.

Một thước đo khả năng sinh lợi khác là tỷ lệ hiệu suất sử dụng tàisảncố định:

= Error!

= Error! + Error!

Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng gia tăng và các khoản cho vay kém chất lượng ngày càng nhiều thì một số lớn các ngân hàng đã chú trọng vào việc tăng nguồn thu ngoài lãi. Những khoản phí này củng cố tổng nguồn thu, giúp tăng thu nhập ròng cho cổ đông của ngân hàng. Ngày nay các nhà quản lý ngân hàng cũng đang nỗ lực hạn chế tỷ trọng tài sản không sinh lời (tiền mặt, tài sản cố định và tài sản vô hình) trong tổng tài sản.

Ngoài những chỉ tiêu trên còn có các chỉ tiêu khácnhư: thu nhập cận biên trước những giao dịch đặc biệt (NRST), tỷ lệ tài sản sinh lời, tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM), tỷ lệ hiệu quả sư dụng tài sản (AU)… Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh, các nhà quản lý có thể vận dụng trong những trường hợp riêng cho phù hợp.

Nợ có vấn đề/dư nợ

Nợ quá hạn/Dư nợ

Nợ quá hạn /vốn của chủ

Ngân quỹ/Nguồn ngắn hạn

Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạy cảm

Nợ/vốn của chủ

Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất…) bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánh sinh lời nhằm phản ánh đầy đủ kết quả kinh doanh của ngân hàng trong một thời kỳ. Nếu ngân hàng theo đuổi các khoản đầu tư mạo hiểm, có thể tỷ lệ sinh lời hiện tại sẽ cao hơn. Tuy nhiên, nếu tổn thất xảy ra (thường qua một thời gian nhất định), sinh lời của ngân hàng sẽ giảm sút, thậm chí có thể ngân hàng sẽ bị phá sản. Do vậy, thời kỳ này rủi ro cao có thể gây ra tổn thất kì sau, làm giảm khả năng sinh lời kì sau. Tỷ lệ Nợ/Vốn của chủ càng cao, tỷ lệ sinh lời ROE càng lớn, song khả năng chống đỡ với ngững tổn thất của ngân hàng càng kém. Tỷ lệ Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạy cảm phản ánh rủi ro lãi suất khi lãi sất thay đổi theo hướng bất lợi cho ngân hàng.Tuy nhiên, khi lãi suất thay đổi theo hướng có lợi hoặc không thay đổi, thu nhập của ngân hàng sẽ gia tăng.

Điển hình của hoạt động trong ngân hàng là hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau và là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.

Chất lượng tín dụng được đánh giá theo một số chỉ tiêu cơ bản, vừa có chỉ tiêu mang tính định tính lại vừa có chỉ tiêu mang tính định lượng. Nhưng hiện nay ở nước ta việc qui định tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu định tính rất khó do nó chỉ mang tính tương đối. Vì vậy, nếu xét về bản chất và yêu cầu đối với một ngân hàng trước mắt cần quy định hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại theo các chỉ tiêu sau :

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoàn trả của người vay) là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hẹn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường (1,5 lần).

Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động kinh doanh là khách quan, do đó nợ quá hạn của ngân hàng thương mại là tất yếu. Song, nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm thu nhập. Ngân hàng thương mại nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp. Đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại .

Cơ cấu vốn đầu tư

Một trong các chỉ tiêu khi xem xét và đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư. Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư chính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các Ngân hàng thương mại có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa bảo đảm an toàn vốn cho vay vừa có thể thu lợi nhuận cao nhất.

Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

Nếu xét về bản chất tín dụng, thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của người vay về nguyên tắc là được trích ra từ phần thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, bị mất vốn (sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản...) nên người vay phải bán tài sản (có thể tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ ngân hàng. Số tiền bán tài sản có thể đủ để trả nợ, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần nợ vay, song trong trường hợp nào thì vẫn có thể đánh giá là chất lượng tín dụng thấp. Công thức tính tỷ lệ này có thể được xác như sau:

= Error! x 100%

Tỷ lệ này được các ngân hàng thương mại tính theo định kỳ ( tháng, quý, năm) số thu nợ do bán tài sản có thể thống kê theo báo cáo của tín dụng.

Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Đây là một chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba lợi ích: Nhà nước, khách hàng và ngân hàng.

Công thức tính vòng quay vốn tín dụng được xác định như sau:

Vòng quay của vốn tín dụng = Error!

Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng (thường là một năm). Hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.

Phân loại tài sản “Có”

Trong thực tế, việc xem xét phân loại tài sản “Có” thường được các ngân hàng thương mại rất chú ý quan tâm. Tài sản “Có”của ngân hàng là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó, những tài sản “Có” đem lại thu nhập, tức là tài sản thu được lãi, giúp cho ngân hàng tạo lợi nhuận.

Về cơ cấu tài sản “Có” gồm một số loại tài sản sau: tiền mặt, tiền gửi ở ngân hàng khác, các chứng khoán, tiền cho vay, những tài sản khác...

Mục đích của việc quản lý tài sản “Có” của ngân hàng là nhằm để làm cực đại lợi nhuận của mình, một ngân hàng phải tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể có của vốn cho vay và của chứng khoán. Đồng thời giảm đến tối thiểu rủi ro và chuẩn bị đầy đủ cho trạng thái “lỏng” bằng cách nắm giữ các tài sản “lỏng”.

Ngoài các chỉ tiêu trên, ngân hàng Nhà nước còn có thể thông qua các văn bản nghiệp vụ để quy định các chỉ tiêu có tính bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại như: thủ tục, hồ sơ cho vay, thời gian tối đa để ra quyết định đối với một khoản vay...

Hoạt động khác của ngân hàng thương mại là huy động vốn, chất lượng của nguồn vốn có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu: qui mô, cơ cấu của nguồn vốn, mức độ ổn định...

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, hàng quý, năm các ngân hàng thương mại có thể tự phân tích đánh giá để xác định hiệu quả hoạt động của mình. Qua đó, Ngân hàng trung ương cũng có cơ sở để chỉ đạo Ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng hoạt động trong từng khâu, từng mặt nghiệp vụ hoặc có các biện pháp bắt buộc cụ thể đối với từng Ngân hàng thương mại.

0