12/01/2018, 16:33

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991)?

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991)? Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp ...

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991)?

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp:

-     Tình hình quốc tế: có những thay đổi lớn, tác động sâu sắc đến nước ta. Đang diễn ra cuộc tấn công quyết liệt của các thế lực thù địch đế quốc và phản động vào các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội nhằm tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng mọi thủ đoạn thâm độc; cuộc khủng hoảng toàn diện trong hệ thống xã hội chủ nghĩa dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu (1989 - 1990). Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng và dẫn tới sự thất bại vào nửa cuối năm 1991. So sánh lực lượng diễn ra bất lợi cho lực lượng cách mạng trên thế giới.

-     Ở trong nước, sau hơn 4 năm thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội có những chuyển biến tích cực, song vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng. Mặt khác, trước sự khủng hoảng và sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa đã tác động không nhỏ  tới lập trường,tư tưởng và niềm tin vào chủ ng hội nghĩa xã hội của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Bối cảnh trên đây đặt ra cho Đại hội VII một nhiệm vụ hết sức nặng nề là phải đề ra đường lối để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Nội dung cơ bản của Đại hội VII:

-    Đại hội đã đánh giá quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và nhận định: Sau hơn 4 năm đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại những kết quả nhất định: Tình hình chính trị của đất nước: ổn định; nền kinh tế có những bước phát triển, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu); kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn về quy mô, hình thức, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy. Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm, từng bước phá thế bao vây về kinh tế, chính trị. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh công cuộc đổi mới.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì những yếu kém và khó khăn còn rất lớn: Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết như lạm phát cao, lao động thiếu việc làm, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài. Số lao động thiếu việc làm tăng. Chế độ lương bất hợp lý. Tốc độ dân số còn quá cao; tình trạng vi phạm dân chủ còn nhiều; văn hoá xã hội có những mặt tiếp tục xuống cấp. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, bất công trong xã hội tăng thêm, an ninh trật tự và an tòan xã hội còn phức tạp, vẫn còn nhân tố gây mất ổn định chính trị, bộ máy nhà nước, Đảng và các đoàn thể nhân dân cồng kềnh, quan liêu, hoạt động kém hiệu quả.

Đại hội đã làm rõ nguyên nhân của khuyết điểm, yếu kém, đồng thời bước đầu rút ra năm kinh nghiệm trong tiến hành công cuộc đổi mới:

Một là: Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới.

Hai là: Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

Ba là: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nưóc về kinh tế - xã hội.

Bốn là: Phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Năm là: Quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn chỉnh lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

-    Trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra và căn cứ vào đặc điểm tình hình đất nước, Đại hội tiếp tục đưa ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm 1991 - 1995.

+ Về mục tiêu: "... mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay”.

+ Đại hội nêu lên bốn phương châm chỉ đạo là: tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân; kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và xã hội; tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đấy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác; tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi để mở rộng và tăng cường quan hệ quốc tế về mọi mặt.

+ Đại hội nêu lên một số nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra như: ổn định và phát triển kinh tế trên cơ sở tập trung đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu; xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế; kết hợp hài hoà phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

+ Đại hội VII của Đảng đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chi nam cho hoạt động của Đảng.

+ Đại hội khẳng định đường lối đối ngoại rộng mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

-     Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

+ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỷ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tổng kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930, nêu lên những bài học và đặc biệt là xác định sáu đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng do nhân dân lao động làm chủ: có một nền kinh tế phát triển cần dựa trên lực lượng sản xuất, hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

+ Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường. Do vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc cần nắm vững bảy phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng lãnh đạo.

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển mội nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao dộng xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

Ba là, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng hoá về hình thức sở hữu, phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất. Phát triển liền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước.

Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nâng cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ.

"Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh".

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 là mốc đánh dấu sự phát triển tư duy chính trị của Đảng ta, thể hiện nhận thức sâu sấc về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về công cuộc đổi mới.

-      Đại hội thông qua Chiến lược ổn định và phát trìển kinh tế- xã hội đến năm 2000.

Chiến lược ghi rõ mục tiêu phát triển là "Phát triển kinh tế - xã hội theo con dường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc".

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: "ra khỏi khủng hoảng, ổn định tinh hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990".

- Đại hội thông qua Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng gắn liền với việc xây dựng và thực hiện Cương lĩnh, Chiến lược và công cuộc đổi mới đất nước.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) gồm 146 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội VII là cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng ta. Đại hội đã thực sự làm tròn trách nhiệm mà lịch sử giao phó, đó là "Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết".

- Đại hội đã hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của Việt Nam và những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt cơ sở và quyết định những bước đi cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước. Từ đó củng cố them niềm tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đổi mới đất nước.

-    Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang diễn ra những biến đổi phức tạp thì “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về lập trường chính trị của Đảng ta trong qụá trình lãnh đạo cách mạng và tạo niềm tin cho nhân dân ta về sự thắng lợi tất yếu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

-   Lần đầu tiên trong lãnh dạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có một bản Cương lĩnh toàn diện, khái quát và nêu lên những vấn đề cở bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộ, an ninh quốc phòng của đất nước, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong công cuộc đổi mới.

soanbailop6.com

0