Mới nhất

ĐÀO HOẰNG CẢNH (457 – 536)

Đào Hoằng Cảnh, tự Thông Minh, hiu Hoa Dương Ẩn Cư, người Đơn Dương, Mạt Lăng (nay là Giang Tô, Nam Kinh). Ông là nhà y dược học trứ danh của thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc, người thứ nhất chỉnh lý hệ thống bản thảo học của y học sử Trung Quốc. Thông minh hiếu học từ nhỏ, lên 4 lên 5, đã bắt ...

VƯƠNG SĨ HÙNG (1808 – 1868)

ương Sĩ Hùng, tự Mạnh Anh, khi nhỏ tự Tiên Long, về già hiệu Phàn Ân, lại hiệu Tiềm Trai, tự xưng là Bán Si sơn nhân, người Chiết Giang, Hải Ninh, là Diêm quan đời Thanh Niên hiệu Càn Long (1736 -1795), vì không chịu nổi tiếng sóng biển vỗ ghềnh, tằng tổ (ông cố) của ông dắt cả nhà dời về ở Tiền ...

VƯƠNG DUY NHẤT

Ông cũng có tên là Vương Duy Đức, không xét được tịch quán. Là nhà châm cứu học trứ danh đời Tống. Ông là ngự y đời Tống Nhân Tông. Ông tinh thông y dược, nghiên cứu sâu về châm cứu học. Đời Tống, dùng châm cứu để trị bệnh đã tương đối thịnh hành. Nhưng từ xưa đến nay, vì phép châm cứu do thầy dạy ...

VƯƠNG ĐÀO (670 – 755)

Ngừơi đời Đường, đất My (nay là Thiểm Tây, huyện My), tác giả bộ ‘Ngoại Đài Bí Yếu’, một bộ sách y học qui mô lớn có tính cách tổng hợp, ngoài bộ ‘Thiên Kim Phương’ của Tôn Tư Mạo. Ông xuất thân nhà quan quyền. Tổ phụ Vương Qui là Tể tướng vào đầu đời Đường; Cha, Vương ...

Luis Pasteur

Luis Pasteur (1822 – 1895) Louis Pasteur sinh ngày 27/12/1882 ở Dole, một vùng của Jura, Pháp. Khám phá của ông cho rằng hầu hết các bệnh nhiễm trùng là do những mầm bệnh, mang tên "lý thuyết về mầm bệnh", là một trong những khám phá quan trọng nhất trong lịch sử y học. Sự nghiệp ...

VŨ CHI VỌNG (1552 – 1629)

Vũ Chi Vọng, tự Thúc Khanh, người Thiểm Tây, Lâm Đồng, Vũ Đồn, là y gia ở cuối đời Minh. Ông học khoa cử, người có tên tuổi và khí tiết cao ở vùng đất Quang Trung, được gọi là ‘Quang Trung hồng nho’ (nhà nho lớn ở Quang Trung) Triều Minh, niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 17 (1589), ông thi ...

VƯƠNG THÁI LÂM (1798 – 1862)

Vương Thái Lâm, tự Húc Cao, biệt hiệu Thoái Tư cư sĩ, người đời Thanh, Giang Tô, Vô Tích. Cha ông là Vuông Khải Hiền, một nhà Nho chưa từng đỗ đạt. Nhà có năm anh em, ông là con nhỏ nhất, cho nên có tên là Ngũ Quan. Ông theo cha học Nho, được cha thương mến vì ông rất thông minh. Khi lớn, theo ...

ĐƯỜNG THẬN VI

Đường Thận Vi, tự là Thẩm Nguyên, nguyên người Tấn Nguyên, Thục Châu (nay là Sùng Khánh, Tứ Xuyên), sau dời chỗ ở đến Thành Đô. Ông là nhà dược học trứ danh đời Bắc Tống, có viết quyển sách lớn về dược vật học tựa là ‘Kinh Sử Chứng Loại Bị Cấp Bản Thảo’ (gọi tắt là ‘Chứng Loại ...

TỪ XUÂN PHỦ (1520 - 1596)

Từ Xuân Phủ, tự Như Nguyên, ngươi Kỳ Môn (nay là An Huy, Kỳ Môn). Cha của ông là Từ Hạc Sơn nhận chúc ‘Tương phủ điển thiện’ (phụ trách bộ phận ẩm thực ở Tương phủ?) mắc phải bạo bệnh chết Sớm. Khi cha chết, mẹ đã mang thai, sau đó sinh ra ông. Để thương nhớ cha, ông lấy hiệu là Tư ...

VƯƠNG DUY ĐỨC (1669 – 1749)

Vương Duy Đúc, tự Hồng Tự, biệt hiệu Lâm ốc tản nhân, lại hiệu Định Định Tử, ngụ ở Ngô Huyện (nay là Giang Tô, Ngô Huyện), Đông Đình Tây Sơn, là thầy thuốc ngoại khoa trứ danh đời Thanh. Ông là con nhà thể y chuyên ngoại khoa. Tằng tổ phụ (ông Vương Nhức Cốc, giỏi trị bệnh ghẻ lở, có viết ‘Bí ...

ĐÁI THIÊN CHƯƠNG

Đái Thiên Chương, tự Lân Giao, về già hiệu Bắc Sơn (được gọi là Bắc Sơn tích xinh), người đời Thanh, Thượng Nguyên (nay là Giang Tô, Giang Ninh), sinh sống quãng niêu hiệu Khang Hi và Ung chính (cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18). Ông tuổi nhỏ theo học với Lâm Thanh Lôi, học khoa cử, hiếu học, nhớ ...

TÔN TƯ MẠO (581 – 682)

Ông là ngươi đời Tùy Đường, Kinh Triệu, Hoa Nguyên (nay là Thiểm Tây, Điệu Huyện), là nhà y dược học trứ danh. Thiên tư thông mẫn, 7 tuổi đọc sách, ngày học được cả ngàn câu, 20 tuổi đã thông hiểu học thuyết của bách gia chư tử. Ngươi đương thời khen là ‘thánh đồng’. Nhưng thuở ...

ĐẶNG VǍN NGỮ (4.4.1910 - 1.4.1967 )

Giáo sư Đặng Vǎn Ngữ sinh ngày 4/4/1910 tại làng An Cựu ngoại ô thành phố Huế. Nǎm 20 tuổi người thanh niên Đặng Vǎn Ngữ đã đỗ tú tài và tốt nghiệp bác sĩ y khoa nǎm 1937 tại Đại học y khoa Hà Nội. Ngay từ khi còn học trung học, ông đã yêu thích công tác nghiên cứu khoa học. Khi vào trường y, ông ...

VƯƠNG KHẲNG ĐƯỜNG (1549 - 1613)

Vương Khẳng Đường, tự Vũ Thái, hiệu Tổn Am, lại hiệu Niệm Tây cư sĩ, người Kim Đàn (nay là Giang Tô, Kim Đàn) là thầy thuốc trứ danh đời Minh. Ông là con của Vương Tiều, là quan coi sóc Thái tử triều Minh. Năm ông 17 tuổi, mẹ bệnh nặng, mời nhiều danh y đến, nhưng vì luận bệnh khác nhau, không ...

VƯƠNG THÚC HÒA

Họ Vương Thúc, tên Hi, người Sơn Dương, Cao Bình thời Ngụy, Tấn (nay là Sơn Đông, Vi Sơn, Trâu Huyện), là ngươi biên soạn sớm nhất quyển Mạch Kinh’, hiện còn của Trung Quốc. Ông xuất thân ở gia đình nghèo, cần mẫn ham học, tánh tình trầm tĩnh, thích đọc sách kinh, sử, nhất là sách y học. ...

TRẦN THỰC CÔNG (1555 – 1636)

Trần Thực Công, tự Dục Nhân, hiệu Nhược Hư, người đời Minh, Đông Hải, Thông Châu (nay là Giang Tô, Nam Thông) là y gia trứ danh về ngoại khoa, có viết sách 'ngoại khoa chính tông’. Ông bị nhiều bệnh từ thuở nhỏ nên để ý đọc các sách y như ‘Tố Vấn’, ‘Nạn kinh’. Đến ...

ĐÀO CÔNG CHÍNH (1623 – ? )

Quê ở làng Cõi,huyện Vĩnh Lại, phủ Trung Hồng tỉnh Thượng Hộng (nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, tp Hải Phòng). Gia đình toàn là những người thông minh, học cao. Thuở nhỏ ông nổi tiếng là thần đồng, năm 13 tuổi đã đi thi Hương, đậu Hương cống đời Hậu Lê. Kỳ thi Hội, ông đứng thứ ...

ĐƯỜNG TÔNG HẢI (1862 – 1918)

Đường Tông Hải, tự Dung Xuyên, người Tứ Xuyên, Bành Huyện, thầy thuốc trứ danh cuối đời Thanh. Ông từ nhỏ hiếu học, tri thức uyên bác, kinh sử thư họa, không thứ nào không tinh thông; hồi là học sinh danh đã vang Ba Thục, có mấy mươi đệ tử. Vì cha ông có nhiều bệnh nên ông cũng học y. Niên hiệu ...

ĐẶNG XUÂN BẢNG (1827 - ?

Tự Hy Long, hiệu Thiện Đình. Người xã Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đậu tú tái 1846, 1848, cử nhân 1850, đạu tiến sĩ 1856, giữ chức tuần phủ Hải Dương, vì để mất thành nên bị cách chức. Sau đó được phục hồi hàm Quang lộc, tự Thiếu khanh, lĩnh chức Đốc học tỉnh Nam Định. Ông thích ...

UÔNG Ỷ THẠCH

Ông là y gia vào cuối đời Minh, tên họ, đời sống và quê quán cụ thể đều không được biết rõ, chỉ nghe ngươi đời gọi ông là ỷ Thạch tiên kinh. Ông nổi danh vì giỏi trị chứng bệnh hư lao, có viết bộ sách chuyên về bệnh hư lao ‘Lý Hư Nguyên Giám’ 2 quyển để đời. Bộ sách này được Kha Đức ...

1 2 3 4 .. > >>