31/03/2021, 15:28

Bài văn phân tích nhân vật Ông giáo trong truyện ngắn "Lão Hạc" số 9 - 10 bài văn phân tích nhân vật Ông giáo trong truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Ca

Đọc truyện “Lão Hạc”, ta bắt gặp bao con người,bao số phận, bao mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng: Lão Hạc và cậu con trai “phẫn chí” đi phu đồn điền cao su, ông giáo và người vợ, Binh Tư và thằng Mục, thằng Xiên… Giữa bóng tối cuộc đời cùng quẫn sau xóm làng quê bùn ...

Đọc truyện “Lão Hạc”, ta bắt gặp bao con người,bao số phận, bao mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng: Lão Hạc và cậu con trai “phẫn chí” đi phu đồn điền cao su, ông giáo và người vợ, Binh Tư và thằng Mục, thằng Xiên… Giữa bóng tối cuộc đời cùng quẫn sau xóm làng quê bùn đọng, ta vẫn tìm thấy ít nhiều ánh sáng tâm hồn nhân hậu, chứa chan tình thương yêu.


Bên cạnh nhân vật Lão Hạc là ông giáo - một nhân vật để lại bao ấn tượng đối với chúng ta về người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Không rõ họ tên là gì. Hai tiếng “ông giáo” đã khẳng định vị thế của một con người giữa làng quê trước năm 1945 “nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể”. Hai tiếng “ông giáo” từ miệng Lão Hạc nói ra, lúc nào cũng đượm vẻ thân tình, cung kính, trọng vọng :”Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ!”…” Vâng, ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng”…”Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo !...”.


Hãy đi ngược thời gian, tìm về thời trai trẻ của ông giáo. Là một người chăm chỉ, ham mê, sống vì một lí tưởng đẹp với bao mộng tưởng. Ông đã từng lăn lộn tận Sài Gòn, ”hòn ngọc Viễn Đông” thời ấy, để làm ăn, để học tập, để gây dựng sự nghiệp. Cái va-li “đựng toàn những sách” được người thanh niên ấy rất “nâng niu”, cái kỉ niệm “đầy những say mê đẹp và cao vọng” ấy, hơn sáu chục năm sau còn làm cho ta xúc động và quý trọng một cách đẹp.


Con người “nhiều chữ nghĩa” ấy lại nghèo. Sau một trận ốm nặng ở Sài Gòn, quần áo bán gần hết, về quê chỉ có một va-li sách. Nếu lão Hạc quý cậu Vàng bao nhiêu thì ông giáo lại quý những quyển sách của mình bấy nhiêu. Bởi lẽ những quyển sách ấy đã làm bừng lên trong lòng ông “như một rạng đông” thời trai trẻ, làm cho cuộc đời thêm sắc màu ý vị, trong trẻo, ”biết yêu và biết ghét”.


Cái nghèo vẫn đeo đẳng ông giáo mãi, ”ông giáo khổ trường tư”. Vận hạn xảy ra luôn luôn như ông nghĩ: ”Đời người ta không chỉ khổ một lần”. Sách cứ bán dần đi. Chỉ còn giữ lại năm quyển sách với lời nguyền: “…dù có phải chết cũng không bán”. Như một kẻ cùng đường phải bán máu, đứa con thơ bị chứng kiết lị gần kiệt sức, ông giáo đã phải bán nốt đi năm cuốn sách cuối cùng, cái gia tài quý giá nhất của người tri thức nghèo.”Lão Hạc ơi ! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu ?”, lời than ấy cất lên nghe thật não nuột, đã thể hiện một nhân cách đẹp trước sự khốn cùng.


Ông giáo là một trí thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý. Ông là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi,tin cậy của Lão Hạc. Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao nỗi đau, nỗi buồn. Nhờ đọc hộ một lá thư, nhờ viết hộ một lá thư cho đứa con trai đi phu đồn điền. Tâm sự về mảnh vườn và chuyện đứa con trai “phẫn chí” không lấy được vợ. San sẻ về nỗi đau sau khi bán cậu Vàng cho thằng Mục, thằng Xiên,…


Có lúc là một điếu thuốc lào, một bát nước chè xanh, một củ khoai lang…”Lúc tắt lửa tối đèn có nhau”. Ông giáo đã đồng cảm, đã thương xót, đã san sẻ với lão Hạc với tất cả tình người. Ông giáo đã thương lão Hạc “như thể thương thân”. Không chỉ an ủi, mà còn tìm mọi cách để “ngấm ngầm giúp” khi biết lão Hạc đã nhiều ngày ăn rau, ăn khoai, ăn củ ráy…Trong lúc đàn con của ông giáo cũng đang đói; cái nghĩa cử “lá lành đùm lá rách” ấy mới cao đẹp biết bao !


Ông giáo nghèo mà đức độ lắm. Trước khi ăn bả chó, lão Hạc đã gửi ông giáo ba mươi đồng để phòng khi chết “gọi là của lão có tí chút”…, gửi lại ông giáo ba sào vườn cho đứa con trai…Tình tiết ấy nói lên lão Hạc rất tin ông giáo. Ông giáo là người để lão Hạc “chọn mặt gửi vàng”.


Giữa các xã hội đen bạc thời ấy, một bà cô dành cho đứa cháu nội bát nước cháo đã vữa ra như một sự bố thí (“Những ngày thơ ấu”), vợ tên địa chủ bắt bí, bóp nặn người đàn bà khốn cùng để mua rẻ đứa con gái lên bảy tuổi và ổ chó (“Tắt đèn”), một tên quan phụ mẫu ăn bẩn đồng hào của chị nhà quê (“Đồng hào có ma”)…, ta mới thấy niềm tin, sự kính trọng của kẻ khốn cùng đối với ông giáo thật là thánh thiện.


Trước cái chết “dữ dội” của Lão Hạc,cái chết “đau đớn và bất thình lình”, chỉ có ông giáo và Binh Tư hiểu…Ông giáo khẽ cất lời than trước vong linh người láng giềng hiền lành tội nghiệp. Trong giọt lệ là những lời hứa của một nhân cách cao đẹp, đáng trọng: “Lão Hạc ơi ! Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về,tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”


Cùng với ông giáo Thứ trong “Sống mòn”, Điền trong ”Trăng sáng”, nhân vật “tôi” trong “Mua nhà”, hình ảnh ông giáo trong truyện “Lão Hạc” đã kết tinh cái tâm và cái tài của Nam Cao trong nghệ thuật xây dựng nhân vật - nhà văn nghèo, ông giáo khổ trường tư - trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là những con người nghèo mà trong sạch, hăm hở và nhiệt tâm từng ôm ấp bao mộng đẹp, sống nhân hậu, vị tha.


Có người đã cho rằng, ông giáo là một nhân vật tự nguyện, mang dáng dấp hình bóng Nam Cao. Ý kiến ấy rất lí thú. Trong truyện “Lão Hạc”, ông giáo vừa là nhân vật, vừa là người dẫn chuyện.Không phải là nhân vật trung tâm, nhưng sự hiện diện của ông giáo đã làm cho “Bức tranh quê” ngày xa xưa ấy thêm sáng tỏ. Nhân vật ông giáo là chiếc gương soi sáng cuộc đời và tâm hồn lão Hạc, đã góp phần tô đậm giá trị nhân đạo của truyện ngắn đặc sắc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trịnh Ngọc Trinh

226 chủ đề

43560 bài viết

Cùng chủ đề
Có thể bạn quan tâm
0