24/05/2017, 11:44

Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn

Đề: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. BÀI LÀM Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em là văn bản trích trong Tuyên bô' của Hội nghị cấp cao thế giới ...

Đề: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.

BÀI LÀM

Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em là văn bản trích trong Tuyên bô' của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại Liên hợp quốc ngày 30-9-1990.

Văn bản được trích lục ở đây gồm có 17 điều:

-             Điểu 1 và 2 là lòi kêu gọi.

-             5 điều tiếp theo (3 - 7): Sự thách thức.

-             2 điều (8 - 9): Cơ hội

-             8 điều còn lại (10 - 17): Nhiệm vụ.

Cấu trúc của văn bản rất chặt chẽ và hợp lí. Lời kêu gọi mở đầu hướng về những ai, và vì đối tượng nào mà ra lời tuyên bố. Sự thách thức nói lên thực trạng, tình trạng sống còn, đau khổ... của trẻ em thế giói. Hai điều cơ hội chỉ ra hoàn cảnh xã hội và lịch sử thuận lợi. Phần Nhiệm vụ là nội dung chính của bản tuyên bố. Tính pháp lí, tính cộng đồng, tính nhân đạo bao trùm văn bản này.

1.             Mở đầu Bản tuyên bố là lòi kêu gọi "khẩn thiết" hướng tói "toàn thể nhân loại" vì mục đích "hãy bảo đảm cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đep hơn " (điều 1). Điều 2 nói rõ vì ai, vì đối tượng nào, đối tượng ấy ra sao mà ra lời kêu gọi. Đó là tất cả trẻ em trên thế giới, một lớp người "đều trong trắng, dê bị tổn thương và còn phụ thuộc". Lớp người nhỏ tuổi ấy cần "phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển ", Hòa bình, ấm no, hạnh phúc là điều kiện, là nhu cầu sống của trẻ em. Tính cộng đồng (rộng lớn), tính nhân đạo được thể hiện rất rõ và vô cùng sâu sắc.

2.            Năm điều tiếp theo nói về sự thách thức, phản ánh thực trạng, điều kiện sống của tuổi thơ trên thế giới. Vô số trẻ em phải chịu bao nhiêu "nôi bất hạnh", "nạn nhân"của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài. Có những cháu chịu cảnh tị nạn, tàn tật... bị "đối xửtàn nhẫn và bóc lột"(â iều 4).

Có hàng triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, chậm phát triển sống trong đói nghèo, vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trưòng xuống cấp. Nguyên nhân chính là

do "tắc động nặng nề của nợ nước ngoài", hoặc tình hình kinh tế "không có khả năng tăng trưởng"(điều 5).

Điều 6 nêu lên những số liệu đáng sợ: mỗi ngày trên thế giới có 40.000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, hội chứng AIDS, hoặc do điều kiện sống: thiếu nước sạch, thiếu vệ sinh, và do tác động của vấn đề ma túy (điều 6).

Văn bản không chỉ nêu lên thực trạng của trẻ em thế giới, mà còn nói lên nguyên nhân. Nhưng không hề đụng chạm tới quốc gia nào. Đó là tính pháp lí thể hiện một cách viết sâu sắc, tế nhị.

3.            Phần Cơ hội chỉ có 2 điếu. Sự liên kết của các nước và "công ước về quyền của trẻ em " đã tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em "được sự tôn trọng"ở khắp nơi trên thế giới, (điều 8).

Bầu không khí chính trị quốc tế được "cải thiện " (cuộc chiến tranh lạnh được phá bỏ), sự hợp tác và đoàn kết quốc tế (khôi phục và phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường...), giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em (điều 9).

Những cơ hội ấy đã được tận dụng trong 15 năm qua, làm cho sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em trên nhiều khu vực, nhiều quốc gia thu được nhiều thành tựu tốt đẹp.

4.            Phần Nhiệm vụ có 8 điều (10 -17)

-            Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em; cứu vãn sinh mệnh trẻ em, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (điều 10).

-            Chăm sóc nhiều hơn đối với trẻ em bị tàn tật và có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn. (Liên hệ: hàng chục vạn trẻ em ở nước ta bị chất độc màu da cam trong chiến tranh,..) (điều 11).

-            Tăng cường vai trò của phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ vì lợi ích của trẻ em toàn cầu; các em gái cần được đối xử bình đẳng (điều 12).

-            Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở ( điều 13).

-            Bảo đảm an toàn cho phụ nữ khi mang thai và sinh đẻ, kế hoạch hóa gia đình để trẻ em lớn khôn và phát triển (điều 14).

-            Cần tạo cho trẻ em một môi trường sống, một xã hội tự do để trẻ em có nơi nương tựa an toàn, được khuyến khích tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội (điều 15).

-            Khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở tất cả các nước; tìm ra giải pháp "nhanh chóng, rộnglớn và lâu bền "cho vấn đề nợ nước ngoài (điều 16).

-            Điều 17 chỉ ra điều kiện để thực hiện nhũng nhiệm vụ đã nêu ra cần "những nỗ lực liên tục", "sựphối hợp trong hành động"cùa từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế.

Đọc văn bản Tuyên bố thế giới về sựsống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của ứẻ em chúng ta mới cảm thấy ý nghĩa sâu xa của vấn đề nuôi dưỡng, dạy dỗ, chăm sóc trẻ em là một sự nghiệp vô cùng to lớn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và toàn thế giói. "Trẻ em là tương lai của Tổ quốc ", "Trẻ em hôm nay, thếgiới ngày mai",những câu khẩu hiệu ấy trở nên thân thiết vói mọi người.

Trong điều kiện được xã hội quan tâm săn sóc, mỗi thiếu niên nhi đồng trên mọi miền đất nước ta phải phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi.

Nguồn:
0