02/08/2018, 22:47

Brexit từ góc nhìn lịch sử EU

Tôn Thất Thông Vòng thương lượng thứ ba giữa Liên hiệp châu Âu (viết tắt là EU) và Vương quốc Anh về vấn đề Brexit kéo dài bốn ngày từ 28.8.2017 với không khí căng thẳng, đối đầu tranh chấp, cuối cùng chấm dứt với việc dẫm chân tại chỗ, tình hình thương thuyết sau sáu tháng vẫn không ...

brexit-may-europe.jpg

Tôn Thất Thông

Vòng thương lượng thứ ba giữa Liên hiệp châu Âu (viết tắt là EU) và Vương quốc Anh về vấn đề Brexit kéo dài bốn ngày từ 28.8.2017 với không khí căng thẳng, đối đầu tranh chấp, cuối cùng chấm dứt với việc dẫm chân tại chỗ, tình hình thương thuyết sau sáu tháng vẫn không nhích lên được một bước nào.

Quan điểm của EU không thay đổi: phải có những bước tiến cụ thể vể ba vấn đề căn bản trước khi bàn về những thỏa thuận cho tương lai. Ba vấn đề đó là: thứ nhất, thỏa thuận về chính sách đối với công dân EU trên nước Anh cũng như công dân Anh trong khu vực EU; thứ hai, vấn đề biên giới giữa Ái Nhı ̃ Lan (thành viên EU) và Bắc Ái Nhı ̃ Lan (vùng thuộc Vương quốc Anh); thứ ba, nghĩa vụ tài chánh của Anh đối với EU về những thỏa thuận trong quá khứ. Phı́a Anh thì trước đó một tuần đã đề nghị Liên hiêp̣ Mâụ dic̣h (Customs Union) có thể được thương thuyết trước, hoặc ít nhất là song song với ba vấn đề nêu trên1. Đấy là chưa kể tài liệu mật 82 trang bị phanh phui về kế hoạch của chính phủ Theresa May muốn hạn chế quyền hạn của công dân EU trên đất Anh2.

Về vấn đề biên giới giữa Ái Nhı ̃Lan và Bắc Ái Nhı ̃Lan, trưởng đoàn đàm phán của EU, Michel Barnier người Pháp, tổng kết trong buổi hop̣ báo: “Những điều tôi đoc̣ đươc̣ trong các văn bản của Anh làm tôi lo lắng. Dường như Anh muốn đòi hỏi rằng EU vô hiêụ hóa những luâṭ lê,̣ qui điṇ h từ trước về biên giới bên ngoài trong tương lai, về liên hiêp̣ mâụ dic̣h và thi ̣trường chung. Điều đó se ̃ không bao giờ xảy ra3”. Trước đó trong các buổi hop̣ , Michel Barnier đa ̃ bác bỏ đề nghi ̣của Anh về vấn đề biên giới Ái Nhı ̃Lan và đòi hỏi môṭ đề nghi ̣mới. Barnier cũng cảnh báo rằng, Anh đừ ng mang ảo tưởng về khả năng tiếp câṇ thi ṭ rường chung EU.

Rõ ràng hai bên sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau, cách hành xử khác nhau, ý định cũng khác nhau, chung giường khác mộng. Rất khó để tiên đoán những hậu quả nào trong tương lai sẽ tác động lên tình hình chung của lục địa châu Âu khi Anh ra khỏi EU vào cuối tháng 3.2019. Điều đó tùy thuôc̣ khá nhiều vào kết quả đàm phán se ̃ kéo dài đến cuối 2018.

Để có một cái nhìn toàn diện khả dĩ hình dung được tình hình trong tương lai, có lẽ chúng ta cần trả lời minh bạch ba câu hỏi: Thứ nhất, vai trò, mục đích và thái độ của Anh trong quá trình hình thành và phát triển Liên hiệp châu Âu suốt 50 năm qua. Thứ hai, tác động chính trị và kinh tế lên nước Anh sau khi ra khỏi EU, đấy là chưa kể ảnh hưởng về lãnh thổ liên quan đến các vùng trong Vương quốc Anh như Scotland, Bắc Ái Nhı ̃ Lan và Gibralta, nơi mà đa số người dân đều mong muốn ở lại EU. Thứ ba, tác động chính trị, kinh tế và tâm lý lên 27 nước EU còn lại. Bài biên khảo sau đây sẽ cung cấp vài tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình thành lập EU kể từ thập niên 1950, qua đó góp phần tìm câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất đã nêu ở trên. Hai câu hỏi tiếp theo xin gác lại vào dịp khác.

1. Những mốc lịch sử đáng chú ý

Để hiểu vai trò và muc̣ đı́ch của Anh trong EU, trước hết chúng tôi tóm tắt những mốc lic̣h sử quan trong trong quá trı̀nh thành lâp̣ EU giai đoaṇ môṭ cho đến 1967 khi Công đồng Châu Âu (EC) thành lâp̣ . Phần trı̀nh bày cũng chı̉ giới haṇ trong những sư ̣kiêṇ có liên quan ı́t nhiều đến Anh.

Tháng 9.1946 – Ý tưởng về châu Âu thống nhất: Trong bối cảnh tàn phá dữ dội do thế chiến II gây ra, châu Âu dường như đã sụp đổ về kinh tế, xã hội và cả văn hóa. Nguồn gốc của thảm họa này rõ ràng là sự cạnh tranh và thù địch giữa các quốc gia, trong đó chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn luôn là nguyên nhân quan trọng hàng đầu, là động lực chính để giới quân phiệt phát động chiến tranh. Đã đến lúc người ta phải tìm giải pháp để tái lập và bảo vệ hòa bình lâu dài. Điều đó chỉ có thể đạt được khi các nước hợp tác nhau theo nguyên tắc liên hiệp và cộng sinh về chính trị, kinh tế và cả về quân sự.
Sáng kiến về một châu Âu thống nhất không phải là mới. Trước đây, Immanuel Kant vào thế kỷ 18, Victor Hugo thế kỷ 19, Gustav Stresemann đầu thế kỷ 20 đã đưa ra những phác họa về một gia đình châu Âu4. Tuy thế, những sáng kiến ấy chỉ được lưu truyền và ca ngợi trong giới trí thức, nhưng chưa trở thành ý thức sống động khả dĩ tạo nên một trào lưu chính trị.

Một năm sau khi chiến tranh chấm dứt, ngày 19.9.1946 tại đại học Zürich, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đọc một bài diễn văn sôi nổi gởi đến thế hệ trí thức trẻ5. Sau khi diễn tả cảnh tàn phá vật chất và những khổ đau mà cả châu Âu đang chịu đựng, trong lúc một đe dọa mới đang có nguy cơ trở thành hiện thực, Churchill đề nghị “một gia đình các dân tộc, một loại Liên hiệp các Quốc gia châu Âu6 phải được thiết lập. Một liên hiệp như thế có thể đem lại cho các dân tộc đang hoang mang trên lục địa bất ổn nhưng mạnh mẽ này cảm giác chung về một quê hương rộng lớn và những quyền công dân như nhau“. Churchill cũng nhấn mạnh rằng “bước đầu tiên để thành lập gia đình châu Âu phải là tạo sự hợp tác hữu nghị giữa Pháp và Đức. Chỉ bằng con đường này, Pháp mới có thể phục hồi vai trò lãnh đạo châu Âu về đạo đức và văn hóa“. Churchill cho rằng chỉ “phương thuốc thần diệu ấy mới có thể chấm dứt cảnh bạo tàn trung cổ“ và trong một vài năm sau sẽ mang lại cho hàng trăm triệu con người đang mệt mỏi nhận lại được niềm vui và nguồn hy vọng để thụ hưởng một cuộc sống có ý nghĩa.

Bài diễn văn của Churchill đã đi vào lịch sử châu Âu như là một làn gió tư tưởng mới để làm cho giấc mơ gia đình châu Âu trở thành một ý thức chính trị sống động7. Cũng cần lưu ý rằng, khái niệm “lục địa châu Âu” của Churchill bao gồm tất cả các nước châu Âu ngoại trừ Anh. Taị sao? Trong thời hậu chiến, giới lãnh đạo chính trị Anh nói chung và Churchill nói riêng đều xem British Empire như một thực thể độc lập bao gồm hơn 50 nước thuộc địa, lúc đó có 700 triệu con người, 1/3 tổng sản lượng GDP thế giới, 1/4 diện tích quả đất. Họ đang chuẩn bị thành lập khối thịnh vượng Anh (British Commonwealth) để bảo vệ quyền lợi kinh tế Anh trong tình hình các phong trào giải phóng thuộc địa có thể nổi lên nay mai.

Nước Anh không có ý định trở nên thành viên của một liên hiệp châu Âu như Churchill phác họa, mà chính sách đối ngoại của họ đặt nền móng trên lý thuyết ba-vòng-tròn giao thoa (Three Circles Model) trong đó Anh sẽ là trung tâm điểm8. Ba vòng tròn đó là: Khối Thịnh vượng chung, Hoa Kỳ và Châu Âu Lục địa.

Tháng 4.1951 – Tổ chức siêu quốc gia đầu tiên. Hôị nghi ̣Hague Congress tháng 5.1948 do Winston Churchill bảo trơ ̣với sư ̣tham dư ̣của 700 thành viên đến từ 16 nước đưa ra đề nghi ̣ về cơ cấu và chức năng của mô ̣ t tổ chức liên quốc gia châu Âu. Trên cơ sở đó, hội nghị ngoại trưởng các nước Tây Âu họp tại The Hague vào tháng 7.1948 quyết định thành lập Quốc hội châu Âu, Liên hiệp Kinh tế và Liên hiệp Mậu dịch Tự do và sau đó thành lâp̣ Hôị đồng Châu Âu (CE – Council of Europe) vào tháng 5.1949 taị London. Đòi hỏi không khoan nhươṇ g của Anh về nguyên tắc nhất trı́ trong các quyết điṇ h đa ̃giới haṇ hoaṭ đôṇ g của CE suốt nhiều năm sau và CE chı̉ còn là môṭ diêñ đàn trao đổi ý kiến. Tuy nhiên CE với 47 nước thành viên cũng góp phần tı́ch cưc̣ cho đến hôm nay về nhân quyền, hơp̣ tác văn hóa, công pháp quốc tế, qui chế ti ̣naṇ và qui điṇ h an toàn xa ̃
hôị.

Từ hiêụ quả thấp của các tổ chức hợp tác không ràng buộc kể trên, nhu cầu thành lập tổ chức siêu quốc gia ngày càng lớn để qua đó các nước châu Âu có thể cùng nhau đưa ra những quyết định có tính ràng buộc, nhất là tổ chức mới phải có thẩm quyền rộng đến các lĩnh vực quan trọng như kinh tế, quốc phòng, đối ngoại. Bước ngoặc đầu tiên được khởi đầu bởi ngoại trưởng Pháp Robert Schuman bằng một đề nghị hết sức bất ngờ ngày 9.5.1950 tại Paris9: “Chính phủ Pháp đề nghị rằng toàn bộ nền sản xuất than và thép của Pháp và Đức được đặt dưới một cơ quan quản lý chung, một cơ quan luôn luôn mở rộng cửa cho các nước châu Âu khác được quyền tham dự“. Ông nhấn maṇ h rằng: “Đề nghị của chúng tôi sẽ là viên đá đầu tiên góp phần xây dựng một liên minh châu Âu như là nhân tố tiên quyết cho việc bảo vệ hòa bình lâu dài“. Ông phát biểu về mặt kinh tế: „Việc sáp nhập nền sản xuất than và thép sẽ bảo đảm cho sự phát triển kinh tế nói chung – tức là bước đầu trên con đường tiến đến liên hiêp̣ châu Âu“.

Hoa Kỳ, Ý và ba nước Benelux tán thành đề nghị của Robert Schuman. Anh thì từ chối nguyên tắc siêu quốc gia và đứ ng ngoài các vòng đàm phán tại Paris. Sau gần một năm thương thuyết, hiệp ước thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu (ECSC10) được ký kết ngày 18.4.1951 tại Paris bởi sáu nước: Pháp, CHLB Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxemburg.

Hiê ̣ n nay chúng ta ı́t nghe đến cô ̣ ng đồng này, vı̀ sứ c maṇ h kinh tếcủa than trở thành lu mờ với sự vươn dâ ̣ y bất ngờ của dầu lửa từ thâp̣ niên 1960, nhưng sư ̣thành lâp̣ ECSC là mốc lic̣h sử quan troṇ g nhất trên quá trı̀nh hı̀nh thành EU, nó khởi đầu cho nguyên tắc siêu quốc gia đươc̣ thử nghiêṃ lần đầu trên thế giới và đaṭ thành công. Giáo sư Dietmar Herz tổng kết về vai trò của tổ chức này như sau: ”Ý nghĩa lịch sử của Cộng đồng Than và Thép nằm ở tính chất kiểu mẫu cho các bước hội nhập về sau.

Nguyên tắc hoaṭ đôṇg của tổ chức này được các cộng đồng về sau tiếp nhận, dù với tên gọi khác và trọng điểm hoạt động có thay đổi. Cho dù hiệu ứng lan tỏa – tức là mở rộng hợp tác ra nhiều lĩnh vực – không xảy ra nhanh như mong muốn, nhưng tác dụng chính trị của cộng đồng này thì vô cùng to lớn11”.

Tháng 3.1957 – Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC12). Với thành công trong hoaṭ đôṇ g của ECSC, ba nước Bỉ, Hà Lan và Luxemburg đề nghị một hình thức mới bằng một cộng đồng kinh tế với quy mô lớn hơn: một thị trường chung, một chính sách chung về giao thông vận tải, về năng lượng và một chính sách xã hội chung. Cả sáu nước Pháp, CHLB Đức, Ý,

Bı̉, Hà Lan và Luxemburg đều có nhận định rằng, việc hội nhập châu Âu phải được bắt đầu trong lĩnh vực kinh tế. Ngày 25.3.1957 tại Rome (Ý), sáu nước nói trên ký hiệp ước thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Nguyên tử lực Châu Âu với mục đích tạo ra một thị trường chung và từng bước tiến đến những chính sách chung cho các nước thành viên13.

Hiêp̣ ước Rome 1957 đánh dấu một mốc thời gian rất quan trọng trong lịch sử châu Âu: Sáu nước thành viên và những người ủng hộ hiệp ước hiểu rằng, để có hòa bình lâu dài và thịnh vượng trên lục địa, mỗi nước phải hy sinh bớt chủ quyền để trao các chủ quyền ấy cho một tổ chức siêu quốc gia, trong đó các nước thành viên hợp tác nhau trên nguyên tắc liên hiệp và cộng sinh. Nước Anh thì hoài nghi nguyên tắc siêu quốc gia và phê phán mọi giải pháp có ảnh hưởng ít nhiều đến chủ quyền của Anh.

Tầm quan trong của EEC trong EU có lẽ chúng ta đã biết, cho nên chı̉ xin trı́ch môṭ kết luâṇ tổng quát như sau14: Ngoại trừ vài thay đổi nhỏ, việc ký kết Hiệp ước Rome là bước đi có tính quyết định cho cơ cấu tổ chức sau này của Tây Âu. Bộ ba “Cộng đồng Than và Thép – Cộng đồng Nguyên tử lực – Cộng đồng Kinh tế“ đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm về
sau. Trong đó, Cộng đồng Kinh tế có ý nghĩa lớn nhất nhờ cách tiếp cận quy mô và tính chất dễ thích ứng cần thiết để tạo điều kiện cho những phát triển mới cũng như tiếp thu những xung lực mới trong quá trình thống nhất châu Âu.

Tháng 1.1960 – Anh thành lâp̣ EFTA15, tổ chức đối trọng với EEC. Hiệp ước Rome chưa ráo mực thì Thủ tướng Anh Harold Macmillan vừa nhậm chức đã tuyên bố từ chối tham gia vào mọi cộng đồng có tính chất siêu quốc gia. Thay vào đó, Anh cùng sáu nước Áo, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ thành lập Hiệp hội Tự do Mậu dịch châu Âu (EFTA). Thực chất EFTA là một đối trọng quyền lực vì Anh muốn liên minh với các nước khác chống lại Cộng đồng Kinh tế Châu Âu, trong đó Pháp là thành viên mạnh nhất. Hoạt động của EFTA không có hiệu quả gì cụ thể và với nguyên tắc hơp̣ tác liên minh, nó cũng không có khả năng đưa ra quyết điṇ h nào có tı́nh ràng buôc̣ đối với các nước thành viên. Thêm vào đó, tı̀nh hı̀nh kinh tế suy thoái bắt buô ̣ c Anh phải tı́nh toán laị chı́nh sách châu Âu của mı̀nh: Các nước thành viên EFTA – kể cả Anh – sau này đều xin gia nhập Cộng đồng Châu Âu.

Tháng 3.1967 – Thành lập Cộng đồng Châu Âu tại Rome (EC16).

Ngày 25.3.1967, một bước đi bảy dặm được thực hiện với sự thành lập Cộng đồng Châu Âu tại Rome. Đây là tổ chức bao gồm bô ̣ba đã nói ở trên: cộng đồng kinh tế, côṇ g đồng nguyên tử lực, côṇ g đồng than và thép.

Đây là tiền thân của Liên hiệp Châu Âu sau này. Sau khi De Gaulle rút lui khỏi sân khấu chính trị năm 1969, Cộng đồng Châu Âu phát triển từ EC-6 (sáu nước), lên EC-9 năm 1973, EC-12 năm 1986. Năm 1996, tổ chức hậu thân của nó là Liên hiệp Châu Âu (EU – European Union) thành lập theo hiệp ước Maastricht năm 1992 có 15 nước thành viên (EU-15). Đến bây giờ là EU-27 và thêm nước Anh sắp từ giã. Đấy rõ ràng là một công trình thế kỷ, đã mang lại hòa bình cho châu Âu hơn 70 năm, thời gian hòa bình dài chưa từng có trong lịch sử cận đại châu Âu.

Mặc dù EC chỉ mới là giai đoạn đầu trong tiến trình thống nhất châu Âu, nhưng cuộc thử nghiệm 20 năm này chứng tỏ một điều: dự án châu Âu là một dự án mang lại lợi ích cho moị thành viên. Không những nền ngoại thương của sáu nước sáng lập trở nên phồn thịnh hơn, giao lưu chính trị văn hóa giữa các nước này mang một chất lượng mới, mà quan trọng hơn là, nguy cơ chiến tranh giữa các nước thành viên cũng không còn điều kiện để tồn tại. Dường như chiến tranh, thù hâṇ giữa các dân tôc̣ châu Âu đã vı̃nh viễn chấm dứ t? Pháp và Đức có thể trở thành hai quốc gia hữu nghi?̣ Trước đó 20 năm, điều này không ai có thể hı̀nh dung đươc̣ .

2. Từ 1960 – 2017: Anh là môṭ thành viên đăc̣ biêṭ.

Năm 1957, để làm suy yếu ảnh hưởng của EEC, Anh vâṇ đôṇ g 18 nước trong Tổ chức Hơp̣ tác Kinh tế (OEEC17) thành lâp̣ môṭ vùng tư ̣do mâ ̣u dịch. Đến 1958, sáng kiến đó không đươ ̣ c hưởng ứng sau môṭ năm vâṇ đôṇ g, cho nên Anh tı̀m giải pháp thu nhỏ. Hiêp̣ hôị Tư ̣do Mâụ dic̣h Châu Âu (EFTA) vı̀ thế đươc̣ thành lâp̣ vào tháng 1.1960 có bảy nước tham dư:̣ Anh, Áo, Đan Mac̣ h, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thuỵ Điển và Thuỵ Sı̃.

Đăc̣ trưng của EFTA là hơp̣ tác về thương maị trên cơ sở tuyêṭ đối tôn tro ̣ ng chủ quyền của từ ng thành viên về chı́nh sách ngoaị thương. Sư ̣phân hóa về tư tưởng trong châu Âu cũng bắt đầu từ đây, giữa môṭ bên là liên hiệp theo nguyên tắc siêu quốc gia do Pháp lãnh đaọ , bên kia là hơp̣ tác liên minh trên cơ sở tuyêṭ đối tôn troṇ g chủ quyền các quốc gia thành viên, được lãnh đaọ bởi Anh.

Hoaṭ đôṇ g chưa tới môṭ năm, Thủ tướng Anh Harold Macmillan phải đau đớn nhâ ̣ n thức rằng, EFTA không thể caṇ h tranh nổi với với EEC, nhất là các nước EEC đa ̃ đaṭ sư ̣tăng trưởng kinh tế đáng ước mơ. Anh sơ ̣rằng, “cuôc̣ hôị nhâp̣ châu Âu không có Anh có thể biến thành cuôc̣ hôị nhâp̣ chống la ̣ i Anh18”, cho nên Macmillan thử tiếp câ ̣ n để hai tổ chức hơp̣ tác nhau. Thử nghiêṃ thất baị nên Anh, cũng như bốn nước khác trong EFTA nôp̣ đơn xin gia nhâp̣ EEC vào năm 1961, măc̣ dù trong nôị bô ̣ho ̣găp̣ sư ̣ chống đối mãnh liê ̣ t từ Công đảng Anh với lâp̣ luâṇ cho rằng, viêc̣ đó không khác nào “chấm dứt 1000 năm lic̣h sử đôc̣ lâp̣ của Vương quốc Anh”. Trớ trêu thay cho Anh, đơn xin gia nhâp̣ đươc̣ chấp thuâṇ nhưng cuối cùng bi ̣De Gaulle phủ quyết.

Giới lãnh đa ̣ o Anh dù dưới sắc cờ nào, đều thừa nhâṇ rằng viêc̣ hiêṇ đaị hóa nước Anh hâụ chiến không thể tách rời khỏi sư ̣hơp̣ tác chăṭ che ̃ với khu vưc̣ kinh tế rất năng đôṇ g của luc̣ điạ. Cho nên Anh laị xin gia nhâp̣ EEC môṭ lần nữa vào năm 1967, lần này do Harold Wilson thuôc̣ Công đảng Anh lãnh đaọ . Đơn xin gia nhâp̣ môṭ lần nữa bi Ḍ e Gaulle phủ quyết.

Cho dù chı́nh tri ̣gia Anh và đa số dân chúng đều ước mơ đươc̣ làm thành viên EEC, nhưng hai lần xin gia nhâ ̣ p và hai lần bi ̣ từ chối đa ̃là môṭ mối nhuc̣ quốc gia mà Anh không bao giờ quên. Nhiều sử gia cho rằng, những chuyêṇ phiền toái mà Anh gây ra cho EU sau này đều có nguồn gốc từ hiê ̣ u ứng De Gaulle. Đấy là môṭ giả thuyết có cơ sở, đáng tham khảo.

Nhưng ngươc̣ laị, có phải đây là môṭ toan tı́nh khôn ngoan của De Gaulle?

Nếu Anh có măṭ và với quyền phủ quyết, liêụ EEC có thể đươc̣ hôị nhâp̣ dê ̃ dàng vào Côṇ g đồng Châu Âu (EC) năm 1967 hay không? Phải chăng De Gaulle muốn rằng, viêc̣ hôị nhâp̣ châu Âu phải đươc̣ hoàn tất tương đối, trước khi thu nhâṇ Anh và các nước khác? Cũng là môṭ giả thuyết có cơ sở, chı ̉ có De Gaulle mới trả lời minh bac̣ h đươc̣ . Chúng ta cũng nhớ rằng, ngoa ̣ i trừ EEC với muc̣ đı́ch kinh tế, Anh chưa hề có môṭ tı ́quan tâm nào đến các lı̃nh vực khác trong dự á n hôị nhâp̣ châu Âu. Đấy là chưa kể năm 1951, Anh đã từ chối tham gia ECSC, môṭ trong ba côṇ g đồng quan troṇ g đa ̃ taọ nên cơ cấu ban đầu của EC.

Mãi đến 1969, môṭ năm lic̣h sử của chı́nh tri ̣châu Âu: Ở Pháp, Charles De Gaulle rút lui khỏi sân khấu chı́nh tri ̣để nhường laị cho Georges Pompidou. Ta ̣i Đức thı̀ Willy Brandt (đảng SPD19) lên nắm quyền chấm dứt triều đaị CDU20 kéo dài 20 năm. Cả hai vi ̣nguyên thủ này đều thấy sư ̣ı́ch lơị cho châu Âu nếu có Anh là thành viên, cho nên đơn xin gia nhâp̣ EC năm 1971 đươc̣ dê ̃dàng chấp thuâṇ năm 1973. Trong cuôc̣ trưng cầu dân ý năm 1975 taị Anh, quyết điṇ h gia nhâp̣ EC đa ̃thắng lớn với tı̉ lê ̣ áp đảo 67% phiếu thuâṇ . Sau này, khi quan sát thái đô ̣ngang ngươc̣ của Thủ tướng Margaret Thatcher trong EC, ı́t người tin rằng bà đã rất hăng hái trong cuô ̣ c vâ ̣ n đô ̣ ng cho phiếu thuâ ̣ n. Thatcher từ ng tuyên bố trong năm 1975: “Côṇ g đồng Châu Âu (EC) đa ̃ mang laị hòa bı̀nh, tư ̣do và an ninh, những điều mà nhiều thế hê ̣dân Anh trước đây chưa có. Thi ̣trường chung se ̃mang về cho Anh nguồn cung cấp thưc̣ phẩm ổn điṇ h. Hàng nhâp̣ khẩu vào Anh sẽ rẻ hơn. Hàng xuất khẩu từ Anh sẽ dễ dàng hơn. EEC có khối lươṇ g ngoaị thương lớn nhất thế giới. Là thành viên của EC, Anh có thể bảo vê ̣quyền lơị của khối thiṇ h vươṇ g chung21”.

Thế là muc̣ đı́ch tối thươṇ g của Anh đa ̃đaṭ đươc̣ : tiếp câṇ vô giới haṇ vào thi ̣ trường chung châu Âu. Những chuyê ̣ n còn la ̣ i sẽ tùy cơ ứng biến, ha ̣ hồi phân giải. Kể từ đây, Anh dùng chiến thuâ ̣ t nướ c đôi trong cách hành xử với EC (EU sau này) và cũng không ngần ngaị sử duṇ g biêṇ pháp câu giờ, đe doạ , phong tỏa, thâṃ chı́ phủ quyết. Muc̣ đı́ch của Anh là taọ mô ̣ t thế đứng riêng biêṭ trong EC, môṭ vai trò đăc̣ biêṭ trong côṇ g đồng, và chắc hẳn cũng để kiếm phiếu trong các kỳ bầu cử trên đất Anh.

Quan điểm của Anh về châu Âu trước sau như môṭ: thuần kinh tế, nâng Anh lên thành thần tươṇ g trong EC/EU. Khi tı̀m cách kỳ kèo để đóng góp vào ngân sách ı́t hơn qui điṇ h, Margaret Thatcher tuyên bố môṭ câu bất hủ năm 1984: “I want my money back”. Khi phê phán bô ̣máy quyền lưc̣ EU, bà tuyên bố khiêu khı́ch năm 1988 taị Bruges, Bı̉: “Chúng tôi sẵn  sàng đối đầu chống laị môṭ siêu quốc gia đang thưc̣ thi quyền lưc̣ thống tri ̣ mới từ Brussels22”.

Khi tranh cử vào năm 1997, Tony Blair nói thẳng thừng về EU: “British interests first, second and last23”. Cho nên nói như giáo sư Roland Sturm24 thı̀ thâ ̣ t chı́nh xác: “Quyền lơ ̣ i quốc gia luôn luôn đứng hàng đầu taị Anh. Liên quan đến EU thı̀ quyền lơị đó ròng về kinh tế. Chı́nh sách của Anh về EU là môṭ đường thẳng tắp, trước sau như môṭ”.

Viê ̣ c đi tı̀m mô ̣ t thế đứng riêng của Anh trong EU, phuc̣ vu ̣cho quyền lơ ̣ i quốc gia đươ ̣ c các lãnh đaọ Anh tiến hành rất rốt ráo, không khoan nhươ ̣ ng và khi cần thı̀ sẵn sàng khiêu khı́ch đến đô ̣ khiếm nhã.

Trong môṭ vài dư ̣án thı ̀ Anh đươc̣ môṭ số nước làm theo, vài dư ̣án khác thı ̀ đấu môṭ mı̀nh cho đến cuối. Tinh thần ấy dươc̣ thể hiêṇ rõ trong vài dư ̣ án quan troṇ g sau đây:

UK Rebate: Anh là môṭ nước có nền nông nghiêp̣ nhỏ hơn các nước ở luc̣ điạ. Cho nên số tiền EU tài trơ ̣cho nông nghiêp̣ Anh tất nhiên cũng ı́t hơn nhiều. Đấy là nguyên tắc của EU không tranh cãi đươc̣ . Vı ̀ thế Margaret Thatcher kiếm con đường khác bằng cách đòi hỏi EU giành môṭ đă ̣ c quyền cho Anh đóng góp ı́t hơn vào ngân sách. Sau bốn năm giằng co ngán ngẩm, với câu nói bất hủ của Thatcher năm 1984 taị Fontainebleau: “I want my money back”, EU nhươṇ g bô ̣và gia giảm cho Anh (goị là UK Rebate) về nghı̃a vu ̣ngân sách. Tı́nh theo thời giá năm 2000, gia giảm này có giá tri ̣ chừng 6 tı̉ EURO mỗi năm. Mô ̣ t số tiền không nhỏ, nhưng sứt mẻ uy tı́n của Anh trong EU có lẽ còn lớn hơn nhiều.

Schengen: Hiêp̣ ước Schengen năm 1985 để thưc̣ hiêṇ tư ̣ do đi laị giữa các nước thành viên không có chữ ký của Anh. Lý do là Anh không muốn chı́nh sách nhâp̣ cư của mı̀nh bi ṛ àng buôc̣ bởi hiêp̣ ước. Nhưng khi thấy lơị ı́ch kinh tế cho quốc gia, Anh sẵn sàng mở cửa môṭ cách choṇ lưạ .

Thưc̣ tế là điều đó đa ̃xảy ra sau môṭ thời gian ngắn. Giáo sư Roland Sturm nhâ ̣ n xét: “Người Anh có mô ̣ t hoài nghi cơ bản về những gı̀ xuất phát từ luc̣ điạ. Tuy thế Anh cũng đa ̃ nhanh chóng mở cửa, thı́ du ̣đối với Ba Lan, vı̀ lý do thưc̣ duṇ g25”.

Eurozone: Măc̣ dù tiền tê ̣chung là môṭ muc̣ tiêu quan troṇ g của EC đươ ̣ c ghi trong các hiê ̣ p ước, Anh vẫn đứng ngoài. Hơn thế nữa, Anh và Đan Ma ̣ ch đòi hỏi mô ̣ t điều khoản miễn trừ trong hiêp̣ ước Maastricht năm 1992 cho phép hai nước này đứng ngoài ràng buôc̣ về tiền tê ̣thống nhất.

Lý do Anh đứng ngoài là để duy trı̀ chủ quyền tuyêṭ đối về ngân sách và chı́nh sách kinh tế, không bi ̣ràng buôc̣ vào những quyết điṇ h của ngân hàng trung ương châu Âu, không cần tuân thủ những qui điṇ h ngăṭ nghèo về bôị chi v.v… Môṭ lý do khác là Anh sơ ̣rằng vi ̣trı́ thươṇ g phong của London về lı̃nh vưc̣ dic̣h vu ̣tài chánh toàn cầu có thể bi ̣lung lay khi gia nhâp̣ khối EURO.

3. Nguyên tắc, động lực, mục đích, thành quả của EU

Trong suốt hai thập niên hậu chiến, cụm từ hòa bình lâu dài trên lục địa châu Âu đã là khái niệm đầu môi chót lưỡi của các vị lãnh đạo quốc gia. Nó được nhắc nhở trong nhiều bài diễn văn, nó ghi lại dấu ấn trênnhiều văn kiện, nó theo suốt quá trình thành lập cộng đồng châu Âu. Không ai chối cãi rằng nó là mục đích tối thượng, là ngọn đuốc soi đường trong mọi cố gắng tìm kiếm lời giải cho tương lai châu Âu. Mục đích tối thượng đó đã đạt được như một phép mầu, mặc dù chiến tranh, thù hận giữa các quốc gia trong nhiều thế kỷ trước đó đã khoét sâu hố ngăn cách. Nhờ chính sách hội nhập mà châu Âu – hay ít nhất là các nước Tây Âu – đã hưởng được 70 năm hòa bình trên lục địa cho đến tận hôm nay. Kể từ cuộc chiến tranh 30 năm vào thế kỷ 17 đã hủy diệt 1/2 dân số châu Âu26, chưa bao giờ có một thời gian hòa bình lâu dài như thế trong lịch sử cận đại châu Âu.

Đó là món quà vô giá của lịch sử, đủ để bù cho tất cả mọi sự hy sinh dù lớn đến đâu. Thành quả của EU trước hết là thành quả của 70 năm hòa bình đạt được, sau đó mới kể đến chuyện phồn vinh của các thành viên không ngừng được nâng cao, chính trị và xã hội ngày càng ổn định.

Có thể nói mà không sợ sai lầm, rằng ngày nào EU còn tồn tại, ngày đó chiến tranh giữa các thành viên khó lòng xảy ra. Điều đó chỉ có thể đạt được bền vững vì hoạt động của EU dựa trên một nguyên tắc mới mẻ được thỏa thuận lần đầu tiên trong lịch sử loài người: đấy là nguyên tắc siêu quốc gia (supranational), trong đó mỗi thành viên tham dự trao bớt chủ quyền quốc gia cho tổ chức đại diện của họ và mỗi thành viên sẽ phải tuân thủ các quyết định của tổ chức siêu quốc gia đó, bất kể quyết định đó nằm trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp hay tư pháp. Nếu như quốc gia nào – dù là lớn như Anh hoặc nhỏ như Hungary hoặc Poland – không chấp nhận hoặc miễn cưỡng chấp nhận nguyên tắc cơ bản đó, thì không sớm thì muộn, họ sẽ tự ý rút khỏi EU. Điều này cũng có thể xảy ra nay mai?

Đến đây, chúng ta thử nhìn lại lịch sử để xem đâu là những động lực quan trọng nhất trong quá trình hình thành EU. Giáo sư Dietmar Herz đã tóm tắt như sau27:

Đôṇ g lưc̣ thứ nhất là ước muốn hòa bình lâu dài trên lục địa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng chủ nghĩa dân tộc – như bài học Đức Quốc Xã – rõ ràng sẽ dẫn đến đổ vỡ kinh hoàng. Như thế, hòa bình lâu dài cũng có nghĩa là trước tiên phải triệt hạ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và chỉ có sáng kiến về một châu Âu thống nhất mới hy vọng đem lại hòa bình bềnvững trong tương lai. Ngoài ra trong bối cảnh đe dọa của Liên Xô, Tây Âu cần một hệ thống phòng thủ để bảo vệ các giá trị chung, những giá trị về dân chủ, tự do, nhân quyền đặt trên nền tảng văn minh phương Tây. Đạo lý Cơ Đốc kết hợp với „chủ nghĩa châu Âu“ phải trở nên thành lũy vững chắc trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản.

Thứ hai, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, không một quốc gia riêng lẻ nào có đủ sức mạnh để đứng vững trong thế gọng kềm của hai siêu cường. Các nước Tây Âu đều phụ thuộc quá nặng vào Hoa Kỳ, về kinh tế cũng như về quân sự. Lại thêm phong trào giải phóng thuộc địa càng làm châu Âu suy yếu hơn. Nhất là Pháp phải đau đớn nhận thức rằng, khái niệm nước lớn (Grande Nation) không còn phù hợp với tình hình mới. Thực tế là, các thử nghiệm để tạo ra một sức mạnh châu Âu chỉ thành công rất hạn chế và nếu như châu Âu vẫn không thể trở thành “lực lượng thứ ba“ giữa hai siêu cường như họ mong muốn, thì nhận thức về cân bằng lực lượng cũng là nhân tố thôi thúc châu Âu tiến đến thống nhất.

Thứ ba, lợi thế kinh tế của một châu Âu thống nhất đóng vai trò rất quan trọng. Jean Monnet, cánh tay mặt của ngoại trưởng Pháp Robert Schuman, nhận xét: „Các nước châu Âu riêng lẻ thì quá nhỏ để có thể mang lại phồn vinh cho người dân của họ. Chúng ta cần một thị trường lớn hơn. Phồn vinh này và sự phát triển xã hội cần có tiền đề là, các nước châu Âu gắn kết với nhau trong một liên minh, qua đó tạo nên một đơn vị kinh tế thống nhất“. Với tư cách là tổng công trình sư xây dựng chính sách của Pháp, Jean Monnet chuyển từ kế hoạch thuần quốc gia sang kế hoạch tiếp cận nguồn lực và thị trường Đức. Các nước châu Âu khác cũng có động lực tương tự. Xu hướng thống nhất châu Âu đã trở nên rất rõ nét ở chính sách kinh tế vĩ mô của các nước trong thập niên 1950, gần giống như xu hướng toàn cầu hóa (globalization) trong thập niên 2000.

Thứ tư, hơn cả phồn vinh kinh tế, động lực quan trọng ngay từ đầu là „vấn đề Đức“: An ninh châu Âu sẽ như thế nào khi Đức không sớm thì muộn sẽ mạnh lên về kinh tế, chính trị và cả quân sự khi nó được tái vũ trang. Hoa Kỳ và Anh đã thấy vị trí tiền đồn chống cộng của Đức trong chiến tranh lạnh. Vai trò phòng thủ của Đức bằng sức mạnh quân sự là yêu cầu tất yếu. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi trước đây của Pháp đối với Đức về giải trừ quân bị, làm suy yếu kinh tế, chia nhỏ Tây Đức v.v… không còn được ai chấp nhận. Trên đường đi kiếm lời giải thì dường như không có chọn lựa nào khác hơn là đưa nước Đức hội nhập vào châu Âu: An ninh nhờ hợp tác. Tư duy cởi mở này được ngoại trưởng Pháp Robert Schuman tóm tắt vào mùa thu 1948 như sau: „Chúng ta có thể duy trì chính sách cổ điển. Nhưng nó không có triển vọng thành công. Hoặc chúng ta có thể thử ràng buộc kẻ thù vào những hiệp ước về quan hệ mà chúng ta cũng như họ phải tuân thủ, ít nhất là nó bảo đảm một cộng đồng lợi ích“. Và cũng chínhnhờ tư duy của Schuman mà Pháp và Đức tiến sát bên nhau, từ thù địch tiến đến bạn láng giềng thân thiết, cả hai nước trở thành đầu tàu kéo các nước khác cùng hội nhập vào châu Âu thống nhất.

Nói tóm lại, những đặc trưng nổi bâṭ của châu Âu thống nhất là: xây dưṇ g hòa bı̀nh lâu dài, triêṭ thoái tư tưởng dân tôc̣ hep̣ hòi, bảo vê ̣các giá tri ̣ nền tảng, chuyển nhươ ̣ ng mô ̣ t phần chủ quyền quốc gia cho mô ̣ t tổ chức siêu quốc gia có đầy đủ thẩm quyền về chı́nh tri, ̣ kinh tế và cả luâṭ pháp. Kết quả tất yếu là kinh tế, xa ̃ hôị và văn hóa se ̃ đươc̣ phát triển maṇ h.

4. Vai trò, mục đích của Anh trong EU

Trong vòng hai thập niên sau thế chiến II, nước Anh từ vị trí đế chế hùng mạnh nhất hoàn cầu trở thành một nước có sức ma ̣ nh trung bình và Anh dần dần rơi vào trạng thái khủng hoảng bản sắc. Khi vai trò đại cường quốc mất đi, Anh phải tìm một con đường khác để phục hồi vai trò trước đây. Đấy không phải là một bài toán dễ dàng. Chính sách đối ngoại của Anh dựa trên nền tảng lý thuyết ba-vòng-tròn giao thoa, trong đó khối thịnh vượng Anh là một vòng, quan hệ với hai vòng kia – Hoa Kỳ và Luc̣ điạ châu Âu – qua những hiệp ước song phương chứ không ràng buộc chủ quyền.

Trong hai thập niên 1950 và 1960, Anh trước sau vẫn giữ khoảng cách với trào lưu hội nhập châu Âu. Điều này có nhiều nguyên nhân. Giáo sư Ursula Lehmkuhl tóm tắt như sau28: Ngay cả sau 1945, Anh và Pháp vẫn nuôi dưỡng tư tưởng cạnh tranh quyền lực. Điều đó ngăn cản sự tham gia của Anh vào một tổ chức châu Âu mang tính chất siêu quốc gia, trong đó Pháp nắm vai trò lãnh đạo. Ngược lại, De Gaulle (Pháp) cho đến thập niên 1960 vẫn còn e ngại rằng sự hội nhập của Anh vào châu Âu có thể gia tăng ảnh hưởng của Hoa Kỳ vào lục địa, và như thế làm suy yếu vi ̣trı ́ lãnh đaọ của Pháp tại đây. Đấy là chưa kể chính sách của Anh về nước  Đức cũng khác xa chính sách của Pháp. Nhưng điều quan trọng hàng đầu đã ngăn chận bước chân Anh hội nhập vào châu Âu là nguyên tắc chủ quyền trong một tổ chức siêu quốc gia. Thay vì gia nhập siêu quốc gia (Supranation), Anh chỉ muốn thành lập một khu vực kinh tế thống nhất dựa trên nền tảng liên minh (Confederation). Nhìn một cách tổng thể, chính sách châu Âu của Anh được định hướng đến lợi thế kinh tế hơn là sáng kiến nền tảng về dự án châu Âu như là phương tiện để xây dựng hòa bình lâu dài và bảo vệ các giá trị chung29. Nói cho cùng thì cách hành xử nước đôi của Anh đối với châu Âu là hệ quả của một tình trạng vô cùng phức tạp, lúc bước đường hội nhập xảy ra đồng thời với quá trình dần dần tan rã của một đế chế hùng mạnh nhất hoàn cầu.

Dù thế nào thì toan tính của Anh trong dự án châu Âu đã đi từ sai lầm này tới sai lầm khác.

Trước hết, lý thuyết ba-vòng-tròn giao thoa tỏ ra không có cơ sở thực tế. Khối thịnh vượng chung (Commonwealth) không tạo được sức mạnh kinh tế và chính trị như Anh chờ đợi. Sản lượng kinh tế các nước thuộc địa quá nhỏ so với các nước châu Âu đang trên đà phát triển mạnh. Các nước thuộc địa đều ở lại trong khối thịnh vượng chung sau khi giành đươc̣ đôc̣ lâp̣ , nhưng quan hệ của họ đối với Anh là quan hệ bình đẳng chứ không phải phục tùng mẫu quốc Anh như trước. Khối thịnh vượng chung hàng năm đều họp hành do Nữ Hoàng chủ tọa, nhưng chủ yếu để làm diễn đàn trao đổi ý kiến và chúc tụng lẫn nhau, chứ trong thực tế ít khi họ thỏa thuận với nhau một chính sách chung mang tầm vóc quốc tế. Nói tóm lại, khối thịnh vượng chung quá yếu để đóng vai trò đối trọng và cân bằng quyền lực trong thế kiềng-ba-chân như Anh dự kiến.

Thứ hai, việc Anh cầm đầu bảy nước thành lập Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu (EFTA) năm 1960 tại Stockolm để đối trọng với Công đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) thành lập năm 1957 là một tính toán sai lầm về kinh tế, mặc dù mọi toan tính của EFTA đều xoay quanh lĩnh vực thương maị. Hoạt động của EEC với cơ chế siêu quốc gia tỏ ra là hiệu quả hơn hẳn EFTA vốn dĩ hoạt động với cơ chế liên minh. Tính hiệu quả của EEC không chỉ nằm ở những quyết định quan trọng mà các thành viên sau đó phải tuân thủ thi hành, mà các nước thành viên của EEC có thể nhanh chóng tối ưu hóa bộ máy quản lý ngoại thương, tạo điều kiện để nâng cao tăng trưởng kinh tế. Chúng ta thử so sánh mức tăng trưởng kinh tế của vài nước trong EEC và EFTA trong 15 năm kể từ lúc EEC được thành lập:

So sánh mức tăng trưởng bình quân hàng năm30 các nước trong EEC và EFTA

Untitled

Trừ Thụy Sĩ có nền kinh tế tương đối nhỏ nhưng phát triển cao, còn lại các nước trong EFTA có mức tăng trưởng thua hẳn các nước trong EEC. Tất nhiên là có nhiều nguyên nhân khác tác động, nhưng rõ ràng thị trường chung EEC với cơ chế siêu quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao mức tăng trưởng các nước thành viên. Đặc biệt nước Anh có mức tăng trưởng tệ hại nhất so với các nước khác.

Kết quả là gì? Mặc dù EFTA trên danh nghĩa vẫn còn tồn tại đến hôm nay, nhưng các thành viên đều xin gia nhập Cộng đồng Châu Âu và chấp nhận nguyên tắc siêu quốc gia mà dự án châu Âu đã đặt ra, khi Cộng đồng Than và Thép (ECSC) được thành lập năm 1951. Trong các nước mới gia nhập EC/EU sau này, có nước thì chấp nhận nguyên tắc siêu quốc gia một cách nghiêm chỉnh, môṭ số nước khác – thí dụ Anh, Ba Lan v.v… – thì chấp nhận nó rất miễn cưỡng vì không có con đường nào khác để đạt lợi ích kinh tế.

Thứ ba, kể từ lúc trở nên thành viên của Côṇ g đồng Châu Âu (EC), Anh vẫn giữ cách hành xử nước đôi. Anh trước sau chı̉ nhı̀n sư ̣hôị nhâp̣ châu Âu trên quan điểm kinh tế và đăc̣ biêṭ là quan điểm thương maị. Chı́nh sách châu Âu của Anh trước hết để phuc̣ vu ̣quyền lơị quốc gia.

Sáng kiến về môṭ côṇ g đồng chung không đóng vai trò nào đáng kể31. Anh chı̉ hăng hái trong lı̃nh vưc̣ kinh tế và thường đóng vai trò cản trở trong các lı̃nh vưc̣ khác, và ho ̣cũng không ngần ngaị sử duṇ g những biêṇ pháp thiếu hòa nhã như phong tỏa hoă ̣ c phủ quyết. Anh từ trước tới sau vẫn muốn có môṭ vai trò riêng trong EU. Những đòi hỏi khác thường như UK Rebate dưới thời Thatcher, từ chối gia nhâ ̣ p Schengen, đứng ngoài khối tiền tê ̣ EURO, đòi đươ ̣ c miễn trừ môṭ số điều luâṭ, dùng đề tài rút khỏi EU để tranh cử quốc hôị v.v… môṭ măṭ taọ nên nghi ky ̣ở các nước thành viên còn laị, măṭ khác đa ̃ taọ nên môṭ tư tưởng chống EU trong giới truyền thông Anh và môṭ bô ̣phâṇ không nhỏ trong dân chúng. Kết quả Brexit chắc hẳn cũng là hê ̣ quả của những cuô ̣ c vâ ̣ n đô ̣ ng chống EU xuất phát từ những chı́nh tri ̣gia có xu hướng quốc gia dân tôc̣ trong suốt 40 năm làm thành viên.

Có thể kết luâṇ đươc̣ chăng, Brexit là môṭ sai lầm tiếp theo những sai lầm của Anh trong quá khứ, có lẽ là sai lầm lớn nhất từ trước tới nay. Khi bình luận về Brexit, cựu ngoại trưởng Đức Joschka Fischer nhận xét:

“Chúng ta chưa quên rằng, khoảng đầu thập niên 1970, Anh đã mất hết thuộc địa trên thế giới và gắn liền với nó là nền móng quyền lực cũng sụp đổ; Để đảo ngược xu hướng kinh tế ngày càng suy thoái, Anh tất yếu phải gia nhập Cộng đồng Châu Âu năm 1973 (tiền thân của EU). Thật đáng tiếc, người Anh ít khi nhận thức đầy đủ thực tế đó32”.

5. Kết luâṇ

Sau hơn nửa thế kỷ hoaṭ đôṇ g, EU đa ̃ taọ nên những thành quả trước đây chưa hề có. Riêng với Anh, dù tham gia châṃ hơn các nước khác, nhưng với tı́nh cách là môṭ trong ba nền kinh tế lớn nhất, ho ̣đa ̃ có những đóng góp lớn trong viêc̣ phát triển kinh tế châu Âu. Brexit rõ ràng là môṭ nỗi buồn chung. Không ai hưởng lơị trong quyết điṇ h này. Cả hai bên đều thua thiêṭ, nhưng ai thiêṭ haị nhiều hơn, điều đó chúng ta cần phân tı́ch thêm, và chờ đơị kết quả đàm phán. Châu Âu se ̃ sup̣ đổ vı̀ Brexit? Chắc hẳn là không. Đế chế Anh sẽ vı̃nh viễn tan rã khi các vùng đất Scotland và Bắc Ái Nhı ̃Lan tách khỏi Vương quốc? Điều đó có thể xảy ra, nếu kết quả đàm phán không làm cho người dân Scotland và Bắc Ái Nhı ̃Lan hài lòng.

Trong môṭ dip̣ khác, chúng ta cần đi sâu hơn để lý giải hai câu hỏi đa ̃ nêu ở trên.

Dù sao thı̀ trong môṭ cuôc̣ hôn nhân cưỡng ép, hoăc̣ khi môṭ bên đồng thuâṇ môṭ cách miêñ cưỡng, thı̀ ly di c̣ ó thể là lời giải mang laị haṇ h phúc cho cả đôi bên. Dường như các nhà lãnh đaọ EU hiểu thấu cái logic đó. Môṭ thời gian rất ngắn sau cú sốc Brexit vào tháng 6.2016, các nhà lãnh đa ̣ o EU trở nên bı̀nh thản hơn, thı́ du ̣như Chủ tic̣h Hôị đồng, Donald Tusk: „Châu Âu sẵn sàng bắt đầu dàn xếp quá trình từ giã nước Anh33“. Hoăc̣ như Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Quốc hội châu Âu, Elmar Brok: „Nước Anh chỉ còn là một ốc đảo cô lập trên Đại Tây Dương34“.

Có quá nhiều khác biêṭ căn cơ giữa Anh và các nước khác. EU xem hòa bı̀nh vı̃nh cửu và giá tri ̣châu Âu làm muc̣ đı́ch tối thươṇ g, trong lúc Anh đưa lơị thế kinh tế quốc gia lên hàng đầu. EU lấy tinh thần san sẻ chủ quyền làm nguyên tắc chủ đa ̣ o để hoa ̣ t đô ̣ ng, trong lúc Anh ngay từ đầu đã bác bỏ nguyên tắc đó. Ngay cả sau khi gia nhâp̣ côṇ g đồng, Anh chı̉ tán đồng những chı́nh sách của EU khi thấy qua đó có thể đaṭ lơị ı́ch kinh tế.

Hơn thế nữa, Anh luôn luôn kỳ kèo cho bằng đươc̣ những đăc̣ quyền riêng. Ngoài ra, chúng ta cũng không quên rằng, động lực thúc đẩy dự án châu Âu là quyết tâm đẩy lùi chủ nghĩa dân tộc vốn dĩ là nguồn gốc của mọi cuộc chiến tranh trong quá khứ, mà gần đây nhất là hai cuộc thế chiến. Taị Anh, với sư ̣trổi dâỵ của những gương măṭ dân túy như Nigel Farage (đảng UK Independence Party) hoăc̣ Boris Johnson (đảng bảo thủ), mâu thuẩn giữa Anh và EU càng tồi tê ̣thêm.

Trong bối cảnh đó, Brexit là một biến cố hiển nhiên! Khi chủ nghı̃a dân tô ̣ c chiếm thươ ̣ ng phong, mo ̣ i tổ chức siêu quốc gia đều trở thành đối tươṇ g để nó tấn công. Huống hồ, ý điṇ h của Anh lúc nôp̣ đơn xin vào EEC năm 1961 và Brexit năm 2017 không khác gı̀ nhiều. Anh chı̉ muốn tiếp câṇ vào thi ̣trường chung châu Âu, ngoài ra thı ̀ đối với các muc̣ tiêu khác và giá tri ̣nền tảng khác của EU, Anh chưa hề quan tâm, se ̃ ha ̣hồi phân giải. Ấ y thế mà giữ đươ ̣ c 40 năm không sứt mẻ đa ̃ là môṭ chuyêṇ thần kỳ.

Giải quyết tốt đep̣ các cuôc̣ thương thuyết về Brexit, EU se ̃bớt đi môṭ yếu tố nhiêũ loaṇ trên quá trı̀nh phát triển tiếp tuc̣ 35.

Kết quả thương thuyết mang laị thiêṭ haị nhiều hay ı́t cho cả hai bên, điều đó tùy thuôc̣ khá nhiều vào cách hành xử khôn khéo hay vuṇ g về của các đoàn đàm phán. Chúng ta mong rằng, hai bên tı̀m đươc̣ môṭ cuôc̣ chia tay hòa bı̀nh, hữu nghi ̣trên cơ sở thỏa hiêp̣ , có qua có laị.

Toan tı́nh của Anh về Brexit là tiếp câṇ vô giới haṇ vào thi ̣trường chung, nhưng đứng ngoài mo ̣ i ràng buô ̣ c khác. Điều đó thı̀ các lãnh đaọ EU đa ̃ phát biểu minh bac̣ h: se ̃ không bao giờ có. Tuy nhiên, như trên đa ̃ nói, cuôc̣ ly di Ḅ rexit này có thể là môṭ lời giải mang laị haṇ h phúc lâu dài cho hai bên, cho nên các nhà lãnh đaọ EU môṭ măṭ cần tı̀m lời giải thỏa hiê ̣ p, mă ̣ t khác phải đứng vững trên những nguyên lý nền tảng đã hı̀nh thành nên tổ chức EU, đấy là hòa bı̀nh vı̃nh cửu, là giá tri ̣châu Âu. Nước Anh không còn là mô ̣ t Great Nation36 có sức maṇ h áp đảo như thế kỷ trước để EU phải qui ̣ lu ̣ y xuống nước. Nếu chı̉ vı̀ lơ ̣ i ı́ch kinh tế hoă ̣ c để làm vừa lòng môṭ anh baṇ láng giềng khó tı́nh, mà EU phải nhươṇ g bô ̣về các giá tri ̣nền tảng, thı̀ thiêṭ haị tinh thần về lâu dài se ̃ lớn gấp bôị. Trong trường hơ ̣ p đó, ho ̣ không còn xứng đáng là đaị diêṇ cho công dân châu Âu. Đấy là chưa kể mô ̣ t khả năng khác: châu Âu tự nó sẽ tan rã.

(Để biết thêm chi tiết về quá trı̀nh thành lâp̣ EU, đôc̣ giả có thể tham khảo sách của cùng tác giả: Thần Kỳ Kinh Tế Tây Đứ c giai đoaṇ 1949-1969. Li ̣ ch sử – Lý thuyết – Chı́nh sách, Nhà xuất bản Phương Nam)

Chú thích:

1 Xem Zeit Online ngày 15.8.2017 – Grossbritannien will temporäre Zollunion mit der EU (Anh muốn một cộng đồng hải quan tạm thời với châu Âu)

2 Xem TheGuardian Online ngày 5.9.2017 – Leaked document reveals UK Brexit plan to deter EU immigrants.

3 Xem Markus Becker – Brüssel schmettert Londons Irland-Plan ab, Spiegel Online 8.9.2017 (Brussels khước từ giải pháp của London về Ái Nhı ̃Lan).

4 Xem trang 7, Otto Schlecht – Motive und Leitbilder der europäischen Einigung
(Động cơ và biểu tượng của việc thống nhất châu Âu)

5 Xem toàn văn tại http://www.cfr.org của Council on Foreign Relations –Churchill’s “United States of Europe” Speech.

6 Winston Churchill dùng thuật ngữ United States of Europe tương tự như Hiệp
Chủng Quốc Mỹ (United States of America).

7 Winston Churchill là vị anh hùng vĩ đại của nước Anh, là thần tượng của châu
Âu tự do, nhưng trong chính sách thuộc địa, ông là người không hề khoan
nhượng với các phong trào đòi độc lập. Đấy là mặt trái của Winston Churchill
mà sách vở phương Tây ít nói đến.

8 Xem Ursula Lehmkuhl – Grossbritanien zwischen Empire und Europa (Vương quốc Anh giữa đế chế và châu Âu), trang mạng http://www.bpb.de (Trung tâm giáo dục chính trị liên bang Đức). Bà Ursula Lehmkuhl là nhà sử học tiếng tăm, giáo sư đại học Erfurt và Berlin, Viêṇ phó Viện Đại học Tự do Berlin.

9 Robert Schuman, Declaration of 9th May 1950, Robert-Schuman-Stiftung

10 ECSC: European Coal and Steel Community

11 Xem trang 28-29, Dietmar Herz – Die Europäische Union (Liên hiệp Châu Âu), ISBN 3-596-14247-4

12 EEC: European Economic Community

13 Xem §2, Hiệp ước EEC

14 Xem trang 34, Dietmar Herz – Die Europäische Union (Liên hiệp Châu Âu), ISBN 3-596-14247-4

15 EFTA: European Free Trade Association

16 EC: European Communities

17 OEEC: Organisation for European Economic Coorporation

18 Xem Ursula Lehmkuhl – Von EFTA bis EU (www.bpb.de)

19 SPD: Sozialdemokratische Partei Deutschlands (Đảng Dân chủ Xa ̃ hôị)

20 CDU: Christlich Demokratische Union (Đảng Dân chủ Cơ Đốc)

21 Xem Thomas Kielinger – 1975 waren die Briten noch überzeugte Europäer
(Năm 1975, người Anh còn là những người châu Âu xác tı́n). WELT Online N24, ngày 6.6.2015.

22 Xem James Kirkup – Margaret Thatcher: Conflict over Europe led to final battle. The Telegraph Online ngày 8.4.2013. Thuâṭ ngữ siêu quốc gia (Superstate) ở đây bao hàm hai nghı̃a: vừ a là bô ̣ máy quyền lực EU, vừa ám chı̉ hai nước Pháp và Đức đang chiếm vai trò thươṇ g phong.

23 Xem Maike Freund và Jessica Schwarzer – Die Britische Diva (Thần tươṇ g Vương quốc Anh). Handelsblatt Online ngày 12.12.2011

24 Roland Sturm: giáo sư khoa hoc̣ chı́nh tri ̣đaị hoc̣ Erlangen.

25 Xem Maike Freund – Die Britische Diva. Handelsblatt Online

26 Cuô ̣ c chiến 30 năm từ 1618 đến 1648, đi kèm với biṇ h dic̣h có môṭ không hai đa ̃ biến vùng đất châu Âu thành bı̀nh điạ. Có nhiều vùng ở Nam Âu chı̉ còn laị 1/3 dân số. Nhiều vùng khác phải cần 100 năm sau mới phuc̣ hồi tı̀nh traṇ g kinh tế xa ̃ hôị trước chiến tranh.

27 Xem trang 24-27, Dietmar Herz – Die Europäische Union (Liên hiệp Châu
Âu), ISBN 3-596-14247-4

28 Xem Ursula Lehmkuhl – Grossbritanien zwischen Empire und Europa
(www.bpb.de)

29 Giá trị đó là dân chủ, tự do, tinh thần nhân bản và văn hóa truyền thống châu
Âu

30 Xem số liệu trang 232, Dieter Grosser – Soziale Marktwirtschaft. Geschichte – Konzept – Leistung (Kinh tế thị trường xã hội: Lịch sử – Khái niệm – Hiệu suất) – ISBN 31-7010-004-1

31 Xem Ursula Lehmkuhl – Grossbritanien in den EuropäischenGemeinschaften (www.bpb.de)

32 Xem Joschka Fischer – Brexit to Nowhere? Project-Syndicate.Org ngày 4.7.2017

33 Xem Zeit Online ngày 28.6.2016

34 Xem FOCUS Online ngày 24.6.2016

35 Xin đôc̣ giả đoc̣ câu trên với sư ̣dè dăṭ cần thiết: Chúng ta chưa có cơ hôị bàn về các lı̃nh vưc̣ rất quan troṇ g là quốc phòng, hê ̣thống phòng thủ chung châu Âu, vũ khı́ ha ̣ t nhân. Vai tro

0